Giáo dục giới tính - Có thai


Những điều cần biết về ốm nghén khi mang thai

đăng 03:22, 8 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Nghén thường xảy ra vào những tháng đầu của thai kỳ, ở bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Tình trạng này chiếm tỷ lệ khoảng 1/300 phụ nữ mang thai. Nhiều giả thiết cho rằng: 

Tình trạng nghén do những thay đổi về nội tiết, do các chất từ nhau và thai nhi tiết ra, thay đổi ở hệ tiêu hoá của các bà mẹ mang thai. Ngoài ra, sự căng thẳng và mệt mỏi cũng làm gia tăng tình trạng này.

 
Biểu hiện dễ nhận thấy nhất của nghén là nôn và buồn nôn, thường bắt đầu lúc thai được 4-8 tuần và giảm dần vào tuần thứ 14-16. Một số trường hợp có thể bị nôn mửa quá 3 tháng đầu thai kỳ. Nhưng sau đó hiện tượng này ít xảy ra.

Trường hợp buồn nôn và nôn thường xuyên, dai dẳng rất hiếm xảy ra. Nếu có, đây là hội chứng nghén nặng, khiến cho người mẹ không duy trì đủ dinh dưỡng và lượng nước, hoặc không tăng cân đủ. Tuy nhiên, các thai phụ cần lưu ý: tình trạng này khác hẳn với tình trạng nôn vào những tháng cuối thai kỳ. Khi ấy hiện tượng nôn thường không do thai, có thể là dấu hiệu báo động những bệnh lý nặng như: Hội chứng gan nhiễm mỡ cấp tính, hội chứng nhiễm độc thai nghén. Điều này có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của người mẹ và thai nhi. Khi có những triệu trứng trên thai phụ cần đi khám ngay. Trước khi điều trị các triệu trứng của nghén bác sỹ thường loại trừ các nguyên nhân gây nôn mửa không do thai như: Rối loạn dạ dày, ruột, chức năng của tuyến giáp...Sau khi chẩn đoán loại trừ nôn mửa do những nguyên nhân khác, trong trường hợp nghén nhẹ bạn cần lưu ý một số vấn đề sau:

Ăn uống đầy đủ các chất bổ dưỡng, có khẩu phần ăn cân bằng, tranh thủ nghỉ ngơi, tránh những chất có hại như thuốc lá, rượu,...Nên tập những bài thể dục nhẹ hoặc đi bộ mỗi ngày. Tránh những tác động không cần thiết của xã hội và công việc. Sự giúp đỡ của gia đình vào luc này cũng rất cần thiết.

Chia các bữa ăn thành những bữa nhỏ, ăn nhiều bữa trong một ngày. Uống một chút nước trong khi ăn cũng có thể làm giảm các triệu trứng nôn mửa. Không để dạ dày quá trống hoặc quá đầy vì sẽ làm tình trạng nôn mửa nặng hơn.

Một số thuốc có thể làm giảm triệu trứng buồn nôn như: primperan (không có tác động xấu lên thai nhi), thuốc B6. Tuy nhiên, các thai phụ cần nhớ khi sử dụng bất kỳ loại thuốc nào cũng phải có sự chỉ dẫn của bác sỹ.

Trong trường hợp nghén nặng, thai phụ cần nhập viện ngay để bác sỹ đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mất nước, kịp thời cung cấp dịch và chất dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch để đảm bảo sức khoẻ cho mẹ và thai nhi.

Ngọc Trang - Tamsubantre


Tinh trùng và khả năng thụ thai
Lựa chọn thời điểm thụ thai và sinh nở

Địa chỉ dịch vụ SKSS


Tinh trùng và khả năng thụ thai

đăng 03:18, 8 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Sự mang thai bắt đầu khi một tế bào sinh dục nam (tinh trùng) kết hợp với một tế bào sinh nữ (trứng hay noãn) để tạo thành một tế bào mới và duy nhất (hợp tử). 

Trứng và tinh trùng đều khác với mọi tế bào trong cơ thể con người, vì chúng chỉ mang một nửa tính di truyền. Trong khi các tế bào khác có 23 đôi hay tổng số 46 nhiễm sắc thể, thì trứng và tinh trùng chỉ có 23 nhiễm sắc thể vì một nửa nhiễm sắc thể của người mẹ và một nửa nhiễm sắc thể còn lại của người cha do đó con người mới ra đời giống cả bố và mẹ, nhưng không hoàn toàn giống một trong hai người. Hơn nữa, các gien mang nhiễm sắc thể lại khác nhau từ trứng này sang trứng khác và từ tinh trùng này sang tinh trùng khác. Ðây là lý do tại sao người anh và người chị thường nhìn khác nhau đến như vậy. Nhưng trước khi chúng ta có thể nhận thức được đặc tính di truyền tạo ra mỗi đứa trẻ như thế nào, chúng ta phải biết về trứng và tinh trùng nhiều hơn nữa cùng với cách chúng tìm đến và kết hợp với nhau như thế nào.  

Tinh trùng 

Là tế bào sinh sản của nam, có kích thước 65 – 70 µm.  

Cấu tạo của tinh trùng gồm 3 phần là: đầu, thân và đuôi. 

Đầu: có hình bầu dục, trong đầu ở phía trước có nhiễm sắc thể (NST). NST chứa tất cả các thông tin di truyền, đó là phần đóng góp của người bố cho đứa con tương lai. Sau NST là một nhân to, có vai trò quan trọng trong qua trình thụ thai. 

Thân: được cấu tạo ở giữa là 1 dây trụ, hai bên là hai dây xoắn ốc. Giữa đầu và thân là trung thể hay cổ tinh trùng. 

Đuôi: là phần dài nhất của tinh trùng, giữa đuôi cũng có một dây trục, ngoài có vỏ bao bọc giúp cho tinh trùng cử động dễ dàng.
 
Tinh trùng bắt đầu được sản xuất ra ở hai tinh hoàn từ tuổi dậy thì, và từ đó về sau tinh hoàn không bao giờ ngừng sản xuất tinh trùng. Tuy nhiên số lượng và chất lượng tinh trùng có giảm dần theo tuổi tác. 

Hàng ngày có khoảng 120 triệu hàng triệu con tinh trùng được sản xuất ra, chúng trưởng thành trong mào tinh hoàn. Tinh trùng có thể cần tới năm tuần để trưởng thành, khi đã trưởng thành thì tinh trùng di chuyển về hai túi chứa gọi là túi tinh. Ở đó chúng được trộn lẫn với chất dịch.

Tinh trùng lấy từ ống sinh tinh hoặc phần đầu của mào tinh hoàn không có khả năng vận động và không thể thụ tinh với noãn. Sau khi tinh trùng ở trong mào tinh hoàn 18-24h, chúng sẽ có khả năng vận động mạnh cho đến khi chúng được phóng vào đường sinh dục nữ. Sau khi được tạo thành ở ống sinh tinh, tinh trùng cần một số ngày để di chuyển qua 6m chiều dài của ống mào tinh hoàn. Năng lượng cung cấp cho sự chuyển động này lấy từ ATP được tổng hợp ở ty lạp thể có nhiều ở phần thân của tinh trùng.

Tinh trùng là những tế bào di chuyển rất năng động, chúng có thể tìm đường lên tận các vòi trứng. Tuy nhiên chúng chỉ di chuyển trong chất dịch gọi là tinh dịch, tốc độ di chuyển của nó là 1,5 – 2,5 mm/ phút. Nếu cổ tử cung làm cho lối vào dễ dàng thì tinh trùng sẽ tới được vòi trứng rất nhanh, chúng chỉ mất khoảng 90’, là có thể đến được điểm đích của chúng.

Khi phóng tinh, tinh trùng được đẩy từ ống dẫn tinh qua niệu đạo ra khỏi dương vật. Tinh trùng chỉ chiếm 1% tinh dịch, nhưng mỗi lần phóng tinh, tinh dịch mang theo từ 100 đến 600 triệu tế bào sinh sản nam này. Số lượng tinh dịch mỗi lần phóng tinh là 2-4 ml. Tỷ lệ hoạt động của tinh trùng lúc mới phóng tinh là 80% và nó có thể sống bên trong tử cung và vòi trứng trong khoảng 3 ngày.

Nếu người đàn ông không phóng tinh thì các tinh trùng cũ sẽ bị tiêu huỷ và thay thế bằng những tinh trùng mới, không phóng tinh sẽ chẳng có hại gì đối với sức khoẻ của người đàn ông.

Tinh dịch 

Tinh dịch là dịch được phóng ra trong khi hoạt động tình dục. Tinh dịch là một hỗn hợp dịch bao gồm dịch từ ống dẫn tinh (chiếm 10% tổng thể tích), dịch túi tinh (60%), dịch tuyến tiền liệt (30%) và một lượng nhỏ từ các tuyến niêm mạc dặc biệt là tuyến hành niệu đạo. 

Với một lượng lớn và lại được phóng ra cuối cùng, dịch túi tinh có tác dụng đẩy tinh trùng ra khỏi ống phóng tinh và niệu đạo. 

Độ pH trung bình của tinh dịch là 7,5. Với độ pH hơi kiềm này, tinh dịch sẽ trung hòa bớt tính chất acid của dịch âm đạo, tạo môi trường thích hợp cho tinh trùng hoạt động. 

Trong ống sinh tinh, tinh trùng có thể sống vài tuần nhưng khi đã được phóng ra ngoài, đời sống tối đa chỉ từ 24-48h. Với nhiệt độ thấp, chuyển hoá giảm nên thời gian sống của tinh trùng kéo dài hơn. 

Tài liệu tham khảo:
Sách “Sinh con theo ý muốn”, tác giả Lê Khắc Linh và Hoàng Thị Sơn. NXB Thanh Niên năm 2000.
Webside http://www.cimsi.org.vn
Webside http://www.ykhoa.net
Nguồn tin: Tâm sự bạn trẻ
Trứng và khả năng thụ thai
Sự phát triển của bào thai

Địa chỉ dịch vụ SKSS


Trứng và khả năng thụ thai

đăng 03:16, 8 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Sự mang thai bắt đầu khi một tế bào sinh dục nam (tinh trùng) kết hợp với một tế bào sinh nữ (trứng hay noãn) để tạo thành một tế bào mới và duy nhất (hợp tử). 

Trứng

Chức năng: Trứng có 3 chức năng

1. Trứng chứa yếu tố di truyền mà người mẹ đóng góp cho em bé.

2. Xác định tiến trình và thời gian phát triển của em bé trong suốt thai kỳ.

3. Trứng cung cấp chất dinh dưỡng cho hợp tử trong vài ngày đầu sau khi thụ tinh. Sau đó bào thai sẽ nhận được chất dinh dưỡng qua dây rốn và nhau thai. Vì trong vài ngày đầu cả nhau thai lẫn dây rốn chưa xuất hiện.

Trứng nằm trong buồng trứng. Bé gái được sinh ra với buồng trứng đã hoàn chỉnh. Không ai biết chính xác buồng trứng một bé gái sinh ra trung bình có bao nhiêu trứng, nhưng con số tạm tính cũng khoảng 400.000 trứng, tuy nhiên, những trứng này còn non nớt và hoàn toàn nằm trong buồng trứng. Đến tuổi dậy thì, dưới sự tác động mạnh mẽ của của các nội tiết tố sinh dục buồng trứng mới bắt đầu hoạt động, trứng được trưởng thành và phóng ra khỏi nang trứng (phóng noãn hay rụng trứng).

Các nội tiết tố hoạt động ngay từ lúc bắt đấu sự sống, chúng điều khiển sự phát triển của các cơ quan sinh dục của thai nhi thành các cơ quan sinh sản của nam và nữ. Sau khi sanh, các nội tiết tố này ngừng hoạt động một thời gian dài. Nhưng tới tuổi dậy thì, chúng hoạt động tích cực và gây nên những thay đổi về thể chất ở các bé trai và bé gái. Sau đó suốt tuổi trưởng thành các nội tiết tố tiếp tục tác động đến hành vi tình dục và chúng điều chỉnh khả năng sinh sản cũng như hoạt động sinh sản của cả nam và nữ.

Sẽ có 400 đến 500 trứng chín trong suốt cuộc đời một người phụ nữ. Thông thường mỗi tháng một lần, một trứng sẽ rụng từ một trong hai buồng trứng. Trứng sẽ rụng vào khoảng giữa chu kỳ kinh. Nếu phụ nữ có chu kỳ kinh hai mươi tám ngày đều đặn, trứng sẽ rụng vào khoảng ngày thứ mười bốn. Nhưng đa số phụ nữ không có chu kỳ kinh đều đặn như trên nên việc tính ngày trứng rụng khó chính xác. Tinh trùng và trứng sẽ phải kết hợp với nhau trong khoảng từ 12 đến 24 giờ sau khi trứng rụng. Sau 48 tiếng, nếu không thụ thai, trứng sẽ tự phân rã.

Những yếu tố ảnh hưởng đến sự rụng trứng

Ở cơ thể một phụ nữ có sức khỏe bình thường, trung bình mỗi tháng có một trứng chín, rụng ra, rơi vào vòi trứng. Quá trình đó bị chi phối bởi nhiều yếu tố, bao gồm:

Tuổi: Giai đoạn dậy thì, hoạt động của nội tiểt tố chưa ổn định nên có những vòng kinh không có trứng chín và rụng hoặc ở giai đoạn tiền mãn kinh cũng như vậy.

Trạng thái sức khỏe, nề nếp sinh hoạt: nghỉ ngơi, lao động, cuộc sống gia đình, trạng thái tinh thần... . Chúng ảnh hưởng đến nội tiết tố, mà nội tiết tố lại chi phối toàn bộ quá trình chín và rụng của trứng.

Chế độ ăn uống điều độ: Giúp cho cơ quan sinh dục hoạt động bình thường, trứng phát triển bình thường, trứng rụng đúng ngày.

Trứng có thể rụng đột xuất, sớm hơn một vài ngày so với quy luật nếu như vợ chồng lâu ngày mới gặp nhau; hoặc nếu trong quan hệ vợ chồng, người vợ đạt khoái cảm cao.

Qua các yếu tố trên, chúng ta thấy trứng có thể rụng sớm hoặc muộn hơn theo tính toán lý thuyết. Do vậy, việc xác định chính xác ngày rụng trứng là khó. Chính vì thế, việc áp dụng biện pháp tránh thai dựa vào việc tính ngày rụng trứng có hiệu quả không cao Các biện pháp tránh thai

Chu kỳ kinh nguyệt đều đặn hay không chính là biểu hiện sự rụng trứng có đều hay không, hoạt động nội tiết có bình thường không. Do đó, đối với tất cả các bạn nữ, việc theo dõi kỹ hiện tượng kinh nguyệt trong sổ riêng của mình là rất cần thiết.

Nguồn tin: Tâm sự bạn trẻ


Địa chỉ dịch vụ SKSS


Quá trình thụ thai

đăng 03:13, 8 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Sự mang thai bắt đầu khi một tế bào sinh dục nam (tinh trùng) kết hợp với một tế bào sinh nữ (trứng hay noãn) để tạo thành một tế bào mới và duy nhất (hợp tử). 


Quá trình thụ thai

Khi trứng chín, tại buồng trứng sẽ có hiện tượng phóng noãn và được loa vòi trứng hứng. Noãn này có khả năng sống trong vòi trứng khoảng 12 - 24 giờ, kể từ lúc rụng.
 
Khi thụ tinh, tất cả các tinh trùng đều cố gắng đến được các vòi trứng, nhưng chỉ có khoảng 2000 tinh trùng đến được điểm đích là noãn (đang trên đường đến tử cung). Quá trình này thường xẩy ra ở 1/3 ngoài của vòi trứng.

Trước khi tinh trùng xâm nhập vào noãn thì tất cả các tinh trùng đều vây xung quanh noãn. Các tinh trùng này cùng tiết ra các men phá huỷ làm mỏng vỏ trứng. Sau đó chỉ có một tinh trùng sẽ được phép chui vào nó. Khi vào trong, xung quanh noãn tiểt ra lớp albumin dày không cho các tinh trùng khác chui vào nữa. Tất cả các tinh trùng khác bị gãy nát và được dòng máu dọn sạch. Trong trường hợp số lượng tinh trùng quá ít, việc làm thủng vỏ trứng sẽ khó được thực hiện hơn do vậy cũng có thể làm khó khăn trong quá trình thụ thai.
 
Em bé sẽ thừa hưởng gen di truyền của cả bố và mẹ
 
Trên thực tế, noãn chỉ tiếp nhận đầu tinh trùng, đuôi và phần giữa của tinh trùng được để lại ở bên ngoài.
 
Lúc này noãn cùng với trung thể nhân của tinh trùng sẽ lớn lên nhanh để vài giờ sau nhân của tinh trùng và noãn trở thành hai tiền nhân, chúng phát triển thành một tế bào có 2 NST. Bộ nhiễm sắc thể này chính là bộ mã di truyền để hình thành nên một đứa trẻ cụ thể.

Quá trình thụ tinh được hoàn tất và trứng bắt đầu phát triển theo bộ mã, do gen của nhiễm sắc thể ấn định.

- Nếu tinh trùng mang NST ‘Y’ kết hợp với noãn thì hợp tử được tạo thành là ‘XY’, sẽ phát triển thành cơ thể nam.

- Nếu tinh trùng mang NST ‘X’ kết hợp với noán thì hợp tử được tạo thành là ‘XX’, sẽ phát triển thành cơ thể nữ.

Sau khi thụ tinh trứng di chuyển về tử cung làm tổ gọi là di trú. Sự di chuyển này nhờ các đường rãnh giữa các tua vòi trứng và thời gian di chuyển của nó tới tử cung mất  khoảng từ 4 – 7 ngày.

Trong giai đoạn này của chu kỳ kinh nguyệt, tử cung đã có sự chuẩn bị cho nội mạc tử cung. Nội mạc tử cung rất dày, được cung cấp máu dồi dào để đảm bảo cho việc làm tổ của trứng. Trứng (mà lúc này đã trở thành một khối gồm hàng trăm tế bào) khu trú trong lớp nội mạc và nối với nguồn cung cấp máu của tử cung. Một khi điều đó đã được hoàn thành thì trứng trở thành một cái phôi thai, có nghĩa là một cơ thể sống ở giai đoạn sơ khai của nó. Và lúc này giai đoạn thụ thai đã được hoàn tất và bắt đầu giai đoạn thai nghén.

Tài liệu tham khảo:

Webside http://www.cimsi.org.vn

Webside http://www.ykhoa.net

Sự phát triển của bào thai

Địa chỉ dịch vụ SKSS


Sự phát triển của bào thai

đăng 03:09, 8 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Thai kỳ phát triển của bào thai có thể được chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn thụ thai được xem như là phần đầu tiên kéo dài khoảng chừng hai tuần đầu của thai kỳ. 
Từ hai đến tám tuần lễ (hai tháng) bé phát triển như một phôi thai – nên còn gọi là thời kỳ phôi. Giai đoạn còn lại (từ tuần thứ chín đến khi sinh) gọi là thời kỳ bào thai và em bé trong bụng mẹ lúc đó được gọi là bào thai.
 
Thời kỳ phát triển phôi (tuần lễ thứ hai đến thứ tám)

Trước khi được sinh ra thai nhi phát triển qua nhiều giai đoạn. Ví dụ: Não và tim bắt đầu phát triển trước đường tiêu hóa, bộ xương và các cơ. Những chi tiết như tóc và mi mắt xuất hiện chậm hơn nhiều. Nếu có một yếu tố nào làm ảnh hưởng đến giai đoạn phát triển, đặc biệt thuốc uống hay bức xạ thì sự tổn thương sẽ xảy ra.

Ví dụ: Ngón tay, ngón chân được hình thành từ tuần lễ thứ sáu đến thứ tám của thai kỳ. Nếu có điều gì đó can thiệp vào sự phát triển của chúng thì chúng sẽ không sửa chữa được sau này. Phần lớn các giai đoạn phát triển các cơ quan quan trọng diễn ra trong 12 tuần đầu vì thế phôi đang phát triển có thể bị tổn hại nghiêm trọng bởi thuốc uống hay bệnh hoạn trong thời gian này. Một khi các bộ phận và các hệ bộ phận ở đúng vị trí, chúng ít khi bị tổn hại. Ðó là điều tại sao một số bệnh cúm xảy ra trong 12 tuần đầu có thể dẫn đến những sự bất thường nghiêm trọng.

Ở tuần thứ tám, phôi bắt đầu thành hình, mặc dù còn nhỏ xíu nhưng cánh tay, chân có các ngón, mắt và tai bắt đầu hình  thành. Có điều, nó chưa thể tự sống, nghĩa là chưa thể sống ngoài môi trường tử cung.

Thời kỳ bào thai (tuần lễ thứ chín đến khi sinh)

Chúng ta bắt đầu nói về thời kỳ phát triển cơ thể thai nhi khi được ba tháng. Khi phần lớn các cơ quan đã được hình thành, thời kỳ bào thai dành hết hoàn toàn cho sự tăng trưởng và hoàn chỉnh các bộ phận. Ở tuần lễ thứ 24 đến 26 (180 ngày sau khi thụ thai), bào thai có thể phát triển và sống được khi đưa ra ngoài tử cung. Mặc dù các kỹ thuật tân tiến có thể giúp bào thai sinh non sống sót, nhưng phần lớn trẻ sinh quá non bị chết.

Bào thai lớn nhanh, đặc biệt ba tháng cuối thai kỳ. Lúc sáu tháng, bào thai có chiều dài trung bình từ 25 đến 30cm và cân nặng từ 454g hoặc 681g cân Anh. Thai nhi lên cân nhanh khoảng 900g mỗi tháng và tiếp tục lên để trẻ sinh ra bình quân cân nặng từ 2,7kg đến 3,8kg, chiều dài khoảng 52,5cm. Trọng lượng trẻ sơ sinh trên 2,2 kg được coi là bình thường.

Sự phát triển các cơ quan sinh dục

Các cơ quan sinh dục được phát triển trong thời kỳ đầu bào thai. Cho tới khi điều này xảy ra, tất cả phôi đều có hình dạng giống nhau. Chúng cũng có cơ quan sinh dục gọi là tuyến sinh dục và sau đó trở thành tinh hoàn ở nam và buồng trứng ở nữ.

Nếu bào thai có cặp nhiễm sắc thể nam XY (đã nói ở trước, một chất gọi là kháng nguyên HY sẽ bắt đầu sản sinh trong tuần thứ bảy của thai kỳ. Chất kháng nguyên HY sẽ tạo ra tuyến sinh dục trung tính trước đó để tạo thành tinh hoàn. Tinh hoàn này bắt đầu sản xuất hóc môn nam testosterons.

Testosterons cũng làm hệ sinh sản nam và cơ quan sinh dục ngoài phát triển. Với dương vật có thể thấy vào khoảng tuần mười hai của thai kỳ.

Nếu những ảnh hưởng của hóc môn nam không hiện diện ở thời điểm này, đứa bé sẽ phát triển đặc tính của bé gái mặc dù nó có cặp nhiễm sắc thể XY.

Nếu bào thai có cặp nhiễm sắc thể XX, các tuyến sinh dục chưa biệt hoá sẽ phát triển thành buồng trứng. Từ tuần lễ thứ mười bốn, cơ quan sinh dục ngoài sẽ là của bé gái.

Cảm nhận bào thai chuyển động

Có một sự kiện xảy ra trong thai, thường là nỗi quan tâm lớn cho cha mẹ. Ðôi khi vào khoảng bốn tháng rưỡi người mẹ sẽ cảm thấy bào thai máy động. Ðầu tiên, đơn giản chỉ là một cảm giác mơ hồ được biết như một sự máy động. Tuy nhiên không lâu sau đó bào thai sẽ cử động khá mạnh làm cho có cảm giác như bị thúc và có thể thấy được ở bụng người mẹ, nhất là từ tháng thứ năm trở đi. Nhưng tới cuối thai kỳ, những cử động đó không còn thấy rõ nữa (mặc dù chúng vẫn còn) vì bào thai di chuyển xuống dưới hơn.

Tài liệu tham khảo:
1. Sách “Sinh con theo ý muốn”, tác giả Lê Khắc Linh và Hoàng Thị Sơn. NXB Thanh Niên năm 2000.
2. Webside 
http://www.cimsi.org.vn
3. Webside http://www.ykhoa.net
 

Nguồn tin: Tâm sự bạn trẻ

Địa chỉ dịch vụ SKSS


Lựa chọn thời điểm thụ thai và sinh nở

đăng 03:06, 8 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Nhiều cặp vợ chồng khi cưới nhau và muốn sinh con. Tuy nhiên, nhiều người có băn khoăn không biết sinh con vào tuổi nào là phù hợp nhất cũng như vào mùa nào tốt nhất cho sức khoẻ. Có nhiều người đôi khi không chú ý đến việc sinh con như thế nào. Tuy nhiên, trước khi sinh, các bạn cũng nên chuẩn bị những điều kiện tốt nhất cho sự ra đời của một đứa trẻ: những điều kiện về tâm lí và sinh lí cũng như môi trường xung quanh. 

Tuổi mang thai tốt nhất

Thời điểm tốt nhất cho việc thụ thai trong đời người phụ nữ là 24-29 tuổi, đàn ông khoảng 30 tuổi. Tuổi người phụ nữ còn quá nhỏ (dưới 20 tuổi) hoặc đã cao (trên 35 tuổi) đều bất lợi cho ưu sinh (sinh con theo ý muốn).
Mùa mang thai đẹp nhất

Trong 4 mùa 12 tháng, cần chọn tháng thụ tinh có lợi cho sự phát dục của bào thai. Theo nhiều nghiên cứu, mang thai mùa Đông, Xuân không tốt bằng mùa Hạ, Thu. Bởi mùa Đông không khí trong và ngoài phòng ở ô nhiễm khá nặng, mùa Xuân lại dễ mắc các bệnh vì siêu vi trùng, đều không có lợi cho bào thai thời kỳ đầu. 

Theo kết luận của đề tài khoa học “Nghiên cứu bệnh truyền nhiễm trong mối quan hệ giữa chất lượng môi trường với những khiếm khuyết ở trẻ sơ sinh” của Trung Quốc, ô nhiễm không khí có thể làm các gene di truyền và nhiễm sắc thể trong tế bào cơ thể phát sinh dị thường, dẫn đến hiện tượng quái thai. Do nồng độ SO2 trong không khí mùa Đông cao hơn hẳn các mùa khác (nhất là ở các khu công nghiệp) nên những khiếm khuyết ở các đứa trẻ thụ thai vào mùa Đông cao hơn hẳn các mùa khác.

Ngoài ra, chất đốt mà gia đình dùng trong sinh hoạt (khí than, khí đốt...) có ảnh hưởng nhất định đến sự phát dục của thai nhi. Lại thêm mùa Đông trời lạnh nên cửa thường đóng, không khí trong nhà dễ độc hại. Do đó, tỷ lệ thai nhi thụ thai mùa Đông luôn cao hơn các mùa khác.

a Xuân, độ ẩm trong không khí lớn, nhiệt độ tăng dần khiến vi khuẩn sinh sôi, các bệnh do siêu vi trùng (sở, cúm, viêm tuỷ, thuỷ đậu...) có khả năng tăng và bùng phát thành dịch, xâm nhập vào nhau thai tạo thành quái thai. Đấy là chưa kể đến nhiều biến động của thời tiết mùa xuân dễ khiến phụ nữ mang thai nhiễm lạnh và mắc bệnh. 

Khi có thai vào dịp cuối Thu, đầu Đông, khí trời mát mẻ, cơ thể khoan khoái, phụ nữ mang thai đã qua thời kỳ phản ứng thai nghén, nhu cầu ăn tăng lên; lại được đảm bảo dưỡng chất (do đúng mùa thu hoạch rau và trái cây) rất có lợi cho sự phát triển não của thai nhi. Đến thời kỳ sinh nở - dịp cuối Xuân, đầu Hạ, khí hậu ôn hoà, thực phẩm phụ phong phú; sản phụ càng được tăng cường dưỡng chất, phục hồi sức khoẻ nhanh. 

Về phía trẻ sơ sinh, mùa này dễ chăm sóc do mặc ít áo. đến lúc trẻ lớn lên cần ăn thêm thì đã vào Đông - khi tránh được cao điểm của các bệnh dịch đường ruột mùa Hè. Đến khi cai sữa đã là mùa Xuân ấm áp, rau tươi phong phú sẽ là nguồn dinh dưỡng quan trọng để trẻ phát triển cơ thể và trí tuệ.

Do vậy, giới y học nhất trí cho rằng, trẻ sinh vào cuối Xuân, đầu Hạ thể chất tốt, ít mắc bệnh. Vì mục đích ưu sinh (đẻ con theo ý muốn) và ưu dục (con được nuôi dưỡng tốt nhất), các cặp vợ chồng nên thụ thai vào tháng 4, 5 là tốt nhất.

Ngoài ra, cần chọn thời điểm cả hai vợ chồng đang ở trạng thái sức khoẻ tốt nhất, đảm bảo có tinh và trứng chất lượng tối ưu. Đặc biệt, nên nghĩ đến việc có đủ điều kiện cùng nuôi con không. Chí ít khi con 2-5 tuổi mới nên nuôi bé một mình.

Các yếu tố bất lợi cho sự thụ thai

Trước khi mang thai, các bạn nên loại trừ những yếu tố bất lợi và chuẩn bị tinh thần tốt để có một đữa trẻ khoẻ mạnh, thông minh. Dưới đây là một số yếu tố bất lợi các bạn nên tránh:

- Mang thai khi có bệnh.

- Thụ thai thời kỳ tân hôn.

- Hút thuốc, uống rượu khi mang thai.

- Mang thai khi tình cảm xáo trộn.

- Thụ thai ngay sau khi ngừng uống thuốc tránh thai. Sau khi ngừng uống thuốc tránh thai, các bạn nên sử dụng một biện pháp tránh thai khác trong khoảng 3 tháng. Vì trong 3 tháng này, tác dụng của thuốc tránh thai vẫn còn trong cơ thể và sự hoạt động của nội tiết tố vẫn chưa trở lại bình thường. Điều này sẽ không tốt cho sự phát triển của thai nhi.

- Thụ thai sau khi chiếu X quang nhiều lần

- Thụ thai trong hoàn cảnh bất lợi.

- Mang thai trong tình trạng dinh dưỡng kém.

An Huệ - Tamsubantre



Địa chỉ dịch vụ SKSS


Cách tính tuổi thai thông thường và của bác sỹ

đăng 03:04, 8 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Có nhiều bạn vào với Tâm sự bạn trẻ và hỏi rằng phải tính tuổi thai như thế nào là chính xác nhất: “Chúng em mới chỉ quan hệ cách đây 5 tuần sao bác sĩ lại nói là thai đã được 7 tuần rồi? 


Có phải là do bạn gái em có quan hệ với người khác rồi không?”. Thực tế, tuổi thai được tính như thế nào?
 
Bình thường, chúng ta thường tính tuổi thai từ ngày quan hệ đến thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, cách tính của các bác sĩ lại khác. Các bác sĩ sẽ tính tuổi thai từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng của bạn nữ cho đến thời điểm hiện tại. Vì vậy, thường cách tính của bác sĩ sẽ chênh lệch với tuổi thai theo cách tính thông thường của chúng ta khoảng hai tuần. Do đó có trường hợp hai bạn mới quan hệ được 5 tuần nhưng bác sĩ nói thai được 7 tuần rồi thì cả hai đều đúng chứ điều đó không có nghĩa là bạn gái đó đã có quan hệ với người khác rồi.

Sự thụ thai diễn ra khi trứng và tinh trùng gặp nhau. Thông thường, trong môi trường âm đạo, tinh trùng có thể sống được từ hai đến ba ngày và di chuyển lên buồng tử cung, sang vòi trứng và gặp trứng ở 1/3 vòi trứng ngoài. Còn trứng rụng có thể tồn tại được khoảng từ một đến hai ngày. Vì vậy, nếu có quan hệ trước ngày rụng trứng khoảng ba ngày và sau ngày rụng trứng khoảng hai ngày thì có thể thụ thai. Tuy nhiên, việc xác định ngày rụng trứng một cách chính xác là rất khó, nhất là với những bạn có chu kỳ kinh nguyệt không đều đặc biệt các tính ngày rụng trứng lại dựa vào ngày có kinh của chu kỳ sau (ngày thứ 14 trước kỳ kinh của chu kỳ sau) trong khi đó chu kỳ sau lại sẽ không xảy ra nữa do đã có thai. Chính vì vậy, bác sĩ sẽ tính tuổi thai từ chu kỳ kinh cuối cùng vì đó là mốc duy nhất để xác định sự thụ thai có thể xảy ra.

Cách xác định tuổi thai khác nhau này khiến nhiều bạn đã hiểu lầm nhau và sinh ra mâu thuẫn giữa hai người. Khá nhiều trường hợp bạn trai khi được bác sĩ cho biết tuổi thai cứ khăng khăng từ chối đấy không phải là "sản phẩm" của mình và nỗi đau này với bạn gái quả là khó minh oan chỉ vì quan điểm và cách tính tuổi thai hoàn toàn khác nhau giữa các bạn trẻ và các bác sĩ.

Thanh Bình - Tamsubantre


Địa chỉ dịch vụ SKSS


Những dấu hiệu cho thấy bạn có thai

đăng 03:02, 8 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Các bạn gái chưa có kinh nghiệm thường băn khoăn như thế nào là có thai? Vậy các bạn hãy tham khảo một số kinh nghiệm dưới đây 

Vào những ngày đầu thì biểu hiện bên ngoài thường ít thấy, dấu hiệu rõ ràng nhất là chậm kinh. Còn ở một số người có biểu hiện như là chán ăn hoặc ăn nhiều hơn bình thường, thèm ngủ. Tuy nhiên, những dấu hiệu này có thể do nhiều yếu tố khác chứ không điển hình cho việc khẳng định bạn có thai. Ở giai đoạn này, bạn nên dùng que thử nếu bạn có nghi ngờ mình đã có thai khi có quan hệ tình dục không bảo vệ (thử sau khi có quan hệ tình dục từ bảy đến mười ngày).

Nếu bạn thử bằng que thử mà xuất hiện hai vạch thì chứng tỏ bạn đã có bầu nhưng que thử không phải là luôn chính xác. Do vậy, sau khi chậm kinh từ một đến hai tuần bạn nên đi siêu âm để được biết chính xác. Trong vài tháng đầu, bạn có thể thấy một số biểu hiện rõ như là: đầu vú thâm, nghén (sợ, chán ăn một vài loại thức ăn nào đó hoặc buồn ngủ, thay đổi thói quen thường ngày, buồn nôn,…), tiết sữa non… Tuy nhiên, không phải ai cũng có những dấu hiệu này.

Ở giai đoạn sau khoảng 3 tháng thì bạn thấy một số dấu hiệu như: vết nám ở mặt xuất hiện nhiều hơn, có đường nâu đậm ở giữa bụng dưới, bụng lớn dần lên…

Ngoài ra, theo các cụ thì có biểu hiện: lông mày xếch, cổ ngỏng. Nhưng đó chỉ là kinh nghiệm dân gian, còn có chính xác không thì không thể khẳng định được. Vì như các bạn đã biết bây giờ nhiều bạn nữ lại thích lvà làm cho ông mày xếch hơn.

Mai Hương


Địa chỉ dịch vụ SKSS


Nguyên nhân vô sinh ở nam giới

đăng 02:57, 8 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Trong trường hợp hiếm muộn, 50% có nguồn gốc từ nam giới (30% ở hệ thống sinh sản và 20% do các vấn đề khác). Có nhiều nguyên nhân gây vô sinh nam, tất cả đều dẫn đến một trong 3 tình trạng sau: giảm số lượng tinh trùng, giảm khả năng vận động của tinh trùng và giảm khả năng thụ tinh cho noãn.

 
Dưới đây là một số nguyên nhân quan trọng: 

Giảm khả năng cung cấp tinh trùng: Có những vấn đề trong quan hệ tình dục, ví dụ như rối loạn chức năng cương cứng, xuất tinh quá sớm.

Xuất tinh trào ngược vào bàng quang: Do bị bệnh tiểu đường (hay gặp nhất), bị phẫu thuật ở bàng quang, tuyến tiền liệt, niệu đạo hoặc do dùng một số thuốc chữa bệnh tâm lý, tăng huyết áp. 

Nghẽn tắc ở mào tinh hay ống dẫn tinh.

Xơ hóa nang: Nam giới bị bệnh này thường không có ống dẫn tinh, hay ống dẫn tinh bị tắc.

Không thể xuất tinh: Do có bệnh ở ống tủy hoặc chấn thương cột sống.

Lỗ niệu đạo lạc chỗ: Lỗ niệu đạo nằm ở mặt dưới của dương vật. Đây là một dị tật bẩm sinh, nếu không được phẫu thuật, bệnh nhân sẽ có nhiều nguy cơ ít tinh trùng.

Bệnh tự miễn dịch: Các kháng thể của hệ miễn dịch tấn công những tế bào bình thường của cơ thể; những kháng thể này làm yếu hay vô hiệu hóa tinh trùng.

Tinh trùng vận động kém: Khả năng vận động thẳng và đi lên của tinh trùng kém, không tới được noãn để thụ tinh.

Tinh trùng có cấu trúc không bình thường, ảnh hưởng đến khả năng thụ tinh cho noãn.

Không có tinh trùng: Do tinh hoàn không sản xuất ra tinh trùng.

Tình trùng ít: Có dưới 10 triệu con trong 1 ml tinh dịch (để có con, tối thiểu trong 1 ml tinh dịch phải có 20 triệu tinh trùng).

Giãn tĩnh mạch: Những tĩnh mạch đưa máu thoát khỏi tinh hoàn bị giãn và xoắn, ảnh hưởng đến việc làm mát cho tinh hoàn, do đó làm tăng nhiệt độ ở bộ phận này.

Tinh hoàn không xuống bìu mà vẫn nằm ở ổ bụng. Nhiệt độ cao ở đây khiến nó hoạt động (sản xuất tinh trùng) kém.

Không có tinh hoàn: Rất hiếm gặp.
 
 
Thiếu hụt testosteron do suy tuyến sinh dục: Nguyên nhân gây ra tình trạng này là có bệnh ở tinh hoàn hoặc bất thường ở vùng dưới đồi tuyến yên (tuyến tạo ra hoóc môn chi phối tinh hoàn).


Hội chứng Klinfetler: Thừa một nhiễm sắc thể X (XXY), gây phát triển bất thường ở tinh hoàn. Hậu quả là giảm sản xuất tinh trùng và lượng testosteron.

Nhiễm khuẩn: Viêm tuyến tiền liệt, tinh hoàn, túi tinh (tuyến tạo ra tinh dịch), niệu đạo. Các bệnh này làm thay đổi sự chuyển động của tinh trùng. Ngay cả khi đã được điều trị hiệu quả bằng kháng sinh, chứng nhiễm khuẩn tinh hoàn vẫn có thể gây sẹo và tắc nghẽn ống dẫn tinh.

Stress: Tình trạng này ảnh hưởng đến một số hoóc môn cần thiết cho việc sản xuất tinh trùng. Số lượng tinh trùng có thể giảm đi nếu tình trạng stress quá nặng hay kéo dài.

Suy dinh dưỡng: Thiếu một số chất như vitamin C, selen, kẽm và folat.

Béo phì: Nhiều khảo sát cho thấy, nam giới béo phì hay bị vô sinh.

Ung thư đang được điều trị: Một số liệu pháp điều trị ung thư (tia xạ, hóa liệu pháp) gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất tinh trùng.

Nghiện rượu, ma túy, thuốc lá: Các chất này làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng.

Bệnh tật: Tình trạng chấn thương, các bệnh tiểu đường, bệnh ở tuyến giáp trạng, HIV/AIDS, hội chứng Cushing, thiếu máu, nhồi máu cơ tim, suy gan, suy thận... đều có ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản.

Tác động xấu của các yếu tố môi trường như nhiệt độ, hóa chất.

Địa chỉ dịch vụ SKSS


Quan hệ tình dục khi mang thai

đăng 02:54, 8 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Có rất nhiều cặp vợ chồng lo lắng về sự an toàn tình dục khi mang thai và thường cảm thấy ngại ngùng khi trao đổi chuyện này với bác sỹ. Đây là việc làm rất cần thiết vì nó sẽ khiến bạn cảm thấy thoải mái và hạnh phúc khi tiếp tục duy trì quan hệ tình dục. 


Đối với một người mang thai bình thường thì không có lý do về thể chất nào có thể ngăn cản hay ảnh hưởng tới sinh hoạt tình dục. Quan hệ tình dục khi mang thai cũng không gây nguy hiểm tới thai nhi vì thai nhi được bảo vệ chắc chắn bởi các thành của tử cung cũng như của túi nước.

Trong trường hợp bạn đã từng sẩy thai hoặc có vấn đề về cổ tử cung thì nên tránh sinh hoạt tình dục trong những tháng đầu mang thai. Hoặc nếu nhau thai nằm quá thấp thì bạn cũng không nên quan hệ tình dục. Và hãy đề nghị bác sỹ cho bạn những lời khuyên. Có một số nhà khoa học cho rằng phụ nữ có thai không nên quan hệ tình dục đường hậu môn vì nó có thể dẫn tới việc tăng nguy có nhiễm trùng âm đạo và nước ối.
 
Trong những tuần đầu mang thai, phụ nữ thường cảm thấy nhu cầu tình dục giảm do sợ ảnh hưởng xấu tới thai nhi hoặc do cảm thấy mệt mỏi, đặc biệt là đối với những người khó thụ thai hay đã từng sẩy thai. Trong suốt giai đoạn đầu mang thai (3 tháng đầu), dưới sự điều khiển của các hóc môn, cơ thể người phụ nữ có những thay đổi. Những thay đổi này khiến người mẹ tương lai cảm thấy khó bị kích thích hay thậm chí thờ ơ với tình dục. Nhiều người chồng không thích nghi ngay được với điều đó và cảm thấy mình bị “bỏ rơi”, thậm chí, có người còn ghen tỵ với “em bé”. Vì vậy, người chồng nên hiểu điều này là hết sức bình thường và không nên ép buộc hay đòi hỏi khi người phụ nữ không muốn.

Trong giai đoạn thứ hai của thai kỳ (3 tháng tiếp theo), những ham muốn tình dục thường tăng cao do lượng máu lưu thông tăng và người phụ nữ sẽ cảm thấy rất sung mãn. Bạn có thể tận dụng khoảng thời gian này. Tuy nhiên, thai càng phát triển đòi hỏi bạn phải càng “sáng tạo” ra những tư thế quan hệ phù hợp. Năng lượng của người phụ nữ được phục hồi và tình trạng buồn nôn, nôn sẽ giảm hoặc ngừng hẳn. Lượng máu đi qua các bộ phận của cơ thể sẽ gia tăng, ngực sẽ trở nên mềm và xệ hơn, vì vậy cần nhẹ nhàng và cẩn thận khi chạm vào nó. Lượng máu chảy xuống vùng xương chậu tăng làm người mẹ trở nên dễ bị kích thích, dễ xuất hiện ham muốn tình dục. Nhiều người đàn ông cảm thấy vợ mình rất hấp dẫn trong thời kỳ này vì họ cho rằng vợ mình “nhiệt tình” hơn trong “chuyện ấy”. Đồng thời, việc quan hệ tình dục khi người vợ mang thai có thể làm cho người chồng “nhạy cảm” hơn, họ có thể cảm nhận được một sự sống mới đang lớn dần lên trong cơ thể người vợ và cảm thấy “một sự gần gũi” mà trước đây chưa từng có. Nhưng bên cạnh đó cũng có không ít những người đàn ông cần phải có thời gian để thích nghi với những thay đổi trên cơ thể vợ mình.

Vào giai đoạn mang thai cuối cùng (3 tháng cuối), bạn sẽ bắt đầu đau lưng và đau chân. Đây là thời điểm mà bạn sẽ gặp một số khó khăn trong quan hệ tình dục và bạn cần đặc biệt chú ý đến tư thế quan hệ. Hãy sáng tạo ra bất kỳ tư thế nào mà không để áp lực đè lên bụng và ngực. Mặc dù việc quan hệ tình dục bằng miệng có thể khiến nhiều phụ nữ cảm thấy không thoải mái nhưng đây lại chính là một biện pháp phù hợp khiến cả hai có thể tận hưởng được những khoái cảm mà hoàn toàn không ảnh hưởng tới thai nhi.

Quan hệ tình dục khiến việc trở dạ trở nên dễ dàng hơn tuy nhiên một khi màng nhầy đã bị phá vỡ thì không nên có hoạt động giao hợp. Đặc biệt, trong suốt quá trình mang thai, khi quan hệ tình dục không nên kích thích vào ngực, vì có thể làm tăng tiết prolactin khiến tử cung co bóp nhiều hơn, dễ gây sảy thai hoặc đẻ non.

Đối với một số cặp vợ chồng, việc mang thai có thể làm cho họ lo lắng, căng thẳng và có thể dẫn tới việc có cảm giác không thoả mãn. Hãy trao đổi một cách cởi mở với chồng sao cho anh ấy có thể hiểu được những gì khiến bạn thấy thoải mái và những gì không nhé! Nhiều cặp vợ chồng đã quyết định đoạn tuyệt với tình dục trong suốt quá trình mang thai. Liệu đây có phải là giải pháp phù hợp và có thể thực hiện được không bạn? Điều quan trọng là các bạn trao đổi với nhau về những cảm giác và nhu cầu của mỗi người. Hãy nhớ rằng có rất nhiều cách để thể hiện tình yêu và cảm xúc như vuốt ve, âu yếm hay các động tác massage ...

Mỗi người đều có một cơ thể khác nhau và hầu hết người phụ nữ đều trải qua những tháng ngày mang thai. Sự chăm sóc và chia sẻ giữa người vợ và người chồng trong quan hệ tình dục là một trong các yếu tố quan trọng tạo nên hạnh phúc. Hãy làm theo những gì bạn cho là đúng và khiến bạn cũng như chồng bạn cảm thấy thoải mái nhất.
 
Nguồn tin: Tâm sự bạn trẻ

Địa chỉ dịch vụ SKSS


1-10 of 27