Bệnh lây truyền đường tình dục


Phân biệt và kỳ thị với người nhiễm HIV/AIDS làm vấn đề trầm trọng hơn

đăng 08:46, 12 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là cơ quan thực hiện Dự án SPPD về Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS tại nơI làm việc ở Việt Nam 


Mục tiêu của Dự án là tham gia vào công tác bảo vệ quyền lợi của những người nhiễm HIV/AIDS, ngăn chặn sự lây nhiễm của HIV/AIDS tại nơi làm việc và giảm những hậu quả xấu về phát triển kinh tế, lao động và xã hội do bệnh dịch gây ra. Đặc biệt, Dự án nhằm mục đích tăng cường sự hiểu biết về những nguyên nhân gây bệnh chính và quy mô sự phân biệt đối xử về việc liên quan đến HIV/AIDS tại Việt Nam ở cấp quốc gia, cấp độ lập chính sách và cấp độ tại nơi làm việc.

Để đạt được những mục tiêu trên, trong tháng 8 và tháng 9/2003, Tổ chức Lao động Quốc tế tại Hà Nội đã ký kết hợp đồng với 3 công ty tư vấn nhằm: (i) xem xét lại khuôn khổ pháp lý về HIV/AIDS, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc; (ii) đánh giá nhanh tình trạng phân biệt đối xử về việc làm liên quan đến HIV/AIDS tại nơi làm việc, những thiếu sót và đòi hỏi về các chính sách và hoạt động nhằm giảm sự phân biệt đối xử; (iii) tiến hành một cuộc điều tra KAP về người lao động tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm hiều kiến thức, thái độ và hành vi của họ đối với vấn đề HIV/AIDS và người nhiễm HIV/AIDS (NCH); và xác định những lý do chính dẫn tới nguy cơ của sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại nơi làm việc.

Việc tổng hợp các kết quả và đề xuất của 3 công ty tư vấn phục vụ cho hoạt động phổ biến và thảo luận giữa các bên có liên quan, các trong nước và quốc tế, đang hoạt động trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS là mục tiêu của tài liệu này. Tài liệu này cũng sử dụng các kết quả nghiên cứu từ một số những nghiên cứu khác về những chủ đề đã được thực hiện ở Việt Nam để làm rõ hơn nữa các vấn đề đang tồn tại.


Địa chỉ dịch vụ SKSS



Bạn gái và HIV - Những điều cần biết

đăng 08:39, 12 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Hiện nay, theo số liệu thống kê của Tổ chức y tế thế giới, có gần một nửa số người nhiễm HIV là phụ nữ và trẻ em gái. Do những đặc điểm của cơ thể và những đặc điểm của văn hoá, truyền thống nên phụ nữ dễ bị nhiễm HIV hơn, đặc biệt là theo đường tình dục.  


 
Khi HIV đã xâm nhập vào cơ thể thì tiến triển của HIV ở phụ nữ cũng tương tự như ở nam giới và thuốc kháng vi rút cũng có tác dụng ở phụ nữ tương tự như ở nam giới. Tuy nhiên, ở phụ nữ, HIV còn có thể ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt và sức khoẻ sinh sản.
 
HIV và kinh nguyệt của bạn gái

Khi bạn gái có H, sự phát triển của vi rút HIV trong cơ thể có thể làm thay đổi sự cân bằng về nội tiết, làm sút cân hoặc gây thiếu máu. Từ đó có thể dẫn đến một số rối loạn kinh nguyệt như: chu kỳ kinh nguyệt không đều, lượng máu kinh có thể nhiều hơn hoặc ít hơn bình thường, chậm kinh hoặc mất kinh (mặc dù không có thai), đặc biệt là đối với những trường hợp bạn gái có H có lượng tế bào bạch cầu lympho T (CD4) suy giảm chỉ còn dưới 200 đơn vị (do bị vi rút HIV phá huỷ, tiêu diệt).

Thậm chí ở một số bạn gái, HIV còn có thể gây mãn kinh sớm,với các triệu chứng như: kinh nguyệt thưa dần rồi ngừng hẳn, khô âm đạo, có những cơn nóng bừng mặt, giảm ham muốn tình dục, da khô và có các đốm đồi mồi trên da, đi tiểu nhiều lần hơn bình thường, tính tình thay đổi … Những dấu hiệu này ảnh hưởng khá lớn đến chất lượng cuộc sống của người phụ nữ.

Các dấu hiệu ở trên cho thấy bệnh đang tiến triển vì vậy, bạn gái có H cần báo cho bác sỹ ngay khi những dấu hiệu này mới xuất hiện.

HIV và các viêm nhiễm đường sinh sản ở bạn gái

Khi nhiễm vi rút HIV, hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy giảm nên những người có H thường dễ mắc các nhiễm trùng đường sinh sản. Tuy nhiên, do đặc điểm của cơ thể nên bạn gái có H dễ bị mắc các nhiễm trùng đường sinh sản hơn nam giới. Và khi đã mắc các nhiễm trùng đường sinh sản thì bệnh thường kéo dài và khó điều trị hơn.

Những nhiễm trùng đường sinh sản bạn gái có H dễ bị mắc là: nấm âm đạo, viêm tiểu khung và ung thư cổ tử cung. Khi bạn gái có H bị nhiễm nấm âm đạo, rất khó điều trị khỏi hẳn. Bệnh này thường gây ngứa dữ dội, dai dẳng ở âm hộ và có cảm giác đau rát ở âm đạo, kèm theo nhiều khí hư màu trắng, đặc.

Viêm tiểu khung thường do Chlamydia hoặc lậu gây ra. Ở bạn gái có H, nhiều loại vi khuẩn hoặc vi trùng lao cũng có thể gây ra bệnh này. Viêm tiểu khung thường gây đau bụng dưới kéo dài, đôi khi đau dữ dội, ra nhiều khí hư, mệt mỏi và thậm chí có thể kèm theo sốt, nôn hoặc ra máu âm đạo bất thường.

Ở bạn gái có H, tỷ lệ mặc bệnh ung thư cổ tử cung cao hơn so với các phụ nữ khác. Bệnh này do vi rút gây bệnh sùi mào gà ở bộ phận sinh dục gây ra. Nếu bệnh không được điều trị sớm có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Để phát hiện bệnh sớm cần thường xuyên đi khám phụ khoa và làm xét nghiệm (6 tháng/ lần).

Đối với các bạn gái có H, việc mắc các nhiễm trùng đường sinh sản có thể để lại những hậu quả nặng nề. Tuy nhiên, điều may mắn là phần lớn các nhiễm trùng này đều có thể phòng được bằng cách sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục. Chính vì vậy, đối với các bạn gái có H cần đặc biệt quan tâm và thực hiện Tình dục an toàn.

HIV và việc mang thai, sinh con của bạn gái

Đối với các bạn gái có H, việc mang thai và sinh con chứa đựng rất nhiều rủi ro và nguy hiểm. Điều này đòi hỏi các bạn gái có H phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định trở thành Mẹ.

Chúng ta đều biết rằng, người mẹ có H có khả năng truyền vi rút HIV cho con trong quá trình mang thai, sinh nở và cho con bú. Tuy nhiên, không phải tất cả những đứa con do các bà mẹ có H sinh ra đều nhiễm HIV. Tỷ lệ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con nếu không được điều trị dự phòng chiếm khoảng 30%.

Trước khi quyết định có thai hoặc trước khi quyết định có con, bạn gái có H cần cân nhắc một số vấn đề sau đây:

- Tình trạng sức khoẻ của bản thân có đủ để vượt qua quá trình mang thai và sinh nở hay không? Nếu bạn gái có H đang mắc bệnh nhiễm trùng đường sinh sản chưa được điều trị khỏi hoặc có lượng CD4 thấp thì không nên có thai.

- Bạn gái có H có cơ hội được điều trị dự phòng lây nhiễm từ mẹ sang con không? Hiện nay, tại các bệnh viện phụ sản lớn ở nước ta như: Bệnh viện Từ Dũ, Viện bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh, Bệnh viện trung ương Huế, Viện Phụ sản Hải Phòng và nhiều khoa sản bệnh viện đa khoa tỉnh đã có thuốc điều trị dự phòng miễn phí cho các trường hợp bà mẹ có H. Vì vậy, khi quyết định có thai và sinh con, bạn gái có H cần đến các cơ sở y tế kể trên để được tư vấn và điều trị dự phòng, nhằm làm giảm nguy cơ lây truyền vi rút cho con. Trong trường hợp bạn gái có H không có điều kiện tiếp cận với việc điều trị dự phòng lây nhiễm từ mẹ sang con thì không nên có thai hoặc sinh con.

- Bạn gái có H có điều kiện mổ đẻ khi sinh con và có khả năng nuôi dưỡng con bằng sữa bột hay không? Việc sinh con theo đường âm đạo hoặc cho con bú sau khi sinh làm tăng khả năng truyền vi rút HIV từ mẹ sang con. Vì vậy, khi bạn gái có H quyết định có thai và sinh con cần chuẩn bị trước việc được mổ đẻ khi sinh con và không nên cho con bú sữa mẹ (vì trong sữa mẹ có vi rút HIV).

- Bạn gái có H có khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con hay không? Có còn khoẻ mạnh trong một thời gian dài không? Có điều kiện sử dụng thuốc kháng vi rút không và có thể tìm sự hỗ trợ từ phía gia đình, người thân trong việc nuôi dạy con hay không? Chúng ta đều biết rằng, nhiễm HIV là nhiễm suốt đời, vì vậy nếu bạn gái có H đảm bảo được rằng con bạn sinh ra sẽ được chăm sóc và dạy dỗ như phần lớn những đứa trẻ khác thì mới nên quyết định có con.

Ngoài ra, khi mang thai và sinh con, bạn gái có H cần tuyệt đối tránh sử dụng rượu và ma tuý, đồng thời cần được theo dõi chặt chẽ thời gian vỡ ối (khi sắp sinh con). Nếu người mẹ bị vỡ ối trước khi sinh từ 4 tiếng trở lên hoặc sử dụng rượu và ma tuý trong thời gian mang thai thì có nguy cơ truyền vi rút HIV sang con rất cao.

Phần lớn con của những bà mẹ có HIV ngay khi sinh đều cho kết quả xét nghiệm dương tính (vì trong máu trẻ còn kháng thể chống lại HIV do mẹ truyền sang) nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả các cháu bé này đều bị nhiễm HIV. Các bà mẹ cần chờ sau khi trẻ được 18 tháng tuổi xét nghiệm lại và nếu lúc này kết quả xét nghiệm vẫn cho kết quả dương tính thì bé mới bị nhiễm HIV, còn nếu kết quả xét nghiệm là âm tính thì trẻ không bị nhiễm HIV từ mẹ.

HIV và việc tránh thai của bạn gái

Cũng giống như những bạn gái khác, nếu bạn gái có H không muốn bị mang thai ngoài ý muốn thì cần sử dụng biện pháp tránh thai khi có quan hệ tình dục. Đối với bạn gái có H, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục là biện pháp tránh thai tốt nhất.Vì bao cao su không chỉ giúp bạn gái tránh mang thai ngoài ý muốn mà còn giúp bạn gái tránh bị nhiễm thêm các dòng vi rút khác cũng như tránh được các bệnh lây qua đường tình dục. Tuy nhiên, nếu bạn gái có H thực sự muốn việc tránh thai đạt hiệu quả tuyệt đối thì cần sử dụng biện pháp tránh thai “kép”, tức là kết hợp bao cao su và một biện pháp tránh thai khác như tính vòng kinh, thuốc diệt tinh trùng … Hiện nay, vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi về độ an toàn và tính hiệu quả của các biện pháp tránh thai khác như: Thuốc uống tránh thai, thuốc tiêm tránh thai, vòng tránh thai đối với các bạn gái có H. Mặc dù chưa có các kết luận rõ ràng song qua quan sát thực tế cho thấy nếu bạn gái có H không điều trị thuốc kháng vi rút thì việc sử dụng thuốc tránh thai cũng không ảnh hưởng gì đáng kể đến sức khoẻ của bạn.


Địa chỉ dịch vụ SKSS



HIV là gì?

đăng 08:33, 12 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - HIV là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh Human Immuno-deficiency Virus, có nghĩa là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người. 

HIV gây hại gì trong cơ thể người ta?
 
Hệ thống miễn dịch rất quan trọng với cơ thể con người. Nhờ có hệ thống này con người được bảo vệ trước các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng của môi trường ngoài và kể cả môi trường trong của cơ thể. Hệ thống miễn dịch bao gồm miễn dịch tế bào (các bạch cầu) và miễn dịch dịch thể do các tế bào lymphô tiết ra. 
 
Khi bị nhiễm HIV hệ thống miễn dịch đặc biệt là các tế bào lymphô bị virus HIV tấn công và xâm nhập vào bên trong tế bào, phát triển và nhân lên trong tế báo lymphô sau đó phá vỡ các tế bào này gây tình trạng suy giảm miễn dịch ở người.

Với tình trạng suy giảm miễn dịch cơ thể chúng ta bị suy yếu và dễ nhiễm các bệnh nhiễm trùng khác như viêm phổi do nấm, tiêu chảy kéo dài, lao... đồng thời lâm vào tình trạng suy kiệt và có thể dẫn đến chết nếu các bệnh nhiễm trùng và suy kiệt này không được cứu chữa kịp thời và tích cực.

Khả năng tồn tại của HIV
 
Trong cơ thể người nhiễm HIV, virus HIV tồn tại suốt đời cho đến khi chết. Sau khi, người nhiễm bị chết thì HIV vẫn tiếp tục tồn tại trong tử thi khoảng 1 – 2 ngày nữa.

HIV rất dễ bị tiêu diệt trong điều kiện đun trong nước sôi, hấp, sấy hoặc dưới tác động của các dung dịch sát khuẩn.

HIV có thể tồn tại khoảng 72 giờ trong máu khô ở ngoài môi trường.

Do vậy, bất kỳ dụng cụ hay bề mặt nào bị nhiễm HIV cũng phải được xử trí bằng nhiệt hoặc hoá chất.

HIV lây truyền trong điều kiện nào?

Phải có mặt của vi rút HIV: Vi rút HIV không tự sinh ra. Với một người không có vi rút HIV thì người đó có làm gì dính đến máu hay quan hệ tình dục không dùng bao cao su thì người đó cũng không thể có trong mình vi rút HIV được. Nhưng cái khó là thường người ta không thể biết được là người ta có bị nhiễm HIV hay không.
 
Phải có lượng HIV đủ lớn: HIV tồn tại trong rất nhiều chất dịch của cơ thể con người nhưng có những dịch không có chứa HIV hoặc là chứa rất ít không đủ để có thể làm lây nhiễm, chẳng hạn như: dịch nước bọt, nước mắt, nước tiểu, mồ hôi... HIV có nhiều nhất ở trong máu và trong chất dịch sinh dục (dịch âm đạo và tinh dịch), đây là thủ phạm làm lây nhiễm vi rút HIV lớn nhất. Ngoài ra, sữa mẹ cũng có khả năng làm lây nhiễm HIV tuy nhiên, ít hơn nhiều so với máu và các dịch tiết của cơ thể.

Vi rút phải đi vào trong cơ thể: Lớp da bình thường bên ngoài cơ thể là một vỏ bọc chắc chắn, nếu không bị sây sát gì thì HIV không đi qua được. Vi rút HIV đi được vào cơ thể theo kim tiêm đâm vào đường máu. Nó cũng có thể đi vào cơ thể qua vết xước da. Ngoài ra, nó còn đi qua được lớp niêm mạc (da mỏng) trong âm đạo, trong lỗ dương vật, bên trong hậu môn để vào máu.


Địa chỉ dịch vụ SKSS



HIV/AIDS: Hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS)

đăng 08:30, 12 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Hiểu biết đầy đủ về khái niệm về hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS) sẽ rất quan trọng đối với mỗi chúng ta! 


Là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, do virút HIV gây ra. AIDS được viết tắt từ cụm từ tiếng AnhAcquired Immuno Deficiency Syndrome. Bệnh này còn được gọi là SIDA (theo tiếng Pháp là Syndrome d'Immuno Deficience Acquise).

 

AIDS là hội chứng vì nó tập hợp nhiều triệu chứng gây ra do suy giảm miễn dịch vì nhiễm virus HIV. Đây là một hội chứng mắc phải vì người bệnh bị nhiễm bệnh này từ người khác mà không do di truyền mà có bệnh.

 

Triệu chứng – các giai đoạn của bệnh

Các biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng HIV được chia theo 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1. Nhiễm trùng cấp (còn gọi là sơ nhiễm)

2-8 tuần sau khi nhiễm HIV, bất kỳ qua con đường nào, 20% bệnh nhân có biểu hiện của một nhiễm trùng cấp với sốt (38-40 độ C), đau cơ, đau khớp, vã mồ hôi, mệt mỏi, chán ăn, nôn ói, tiêu chảy, viêm họng, phát ban đỏ ngoài da (xuất hiện ở 50% bệnh nhân), hạch to, lách to. Một số bệnh nhân có biểu hiện thần kinh như viêm não, viêm màng não, viêm dây thần kinh ngoại biên… Các triệu chứng này hiện diện trong vòng 5-10 ngày và tự khỏi hoàn toàn. 

Trong giai đoạn này, mới có sự hiện diện của kháng nguyên trong máu. Phải chờ 2-12 tuần sau kháng thể mới xuất hiện và lúc này mới có thể xác định được bằng các xét nghiệm sàng lọc và chẩn đoán nhiễm HIV thông thường (huyết thanh chẩn đoán).

Trong thời gian này, do không biết mình nhiễm bệnh, người nhiễm HIV rất dễ truyền bệnh cho những người khác. 

Giai đoạn 2. Nhiễm virus không triệu chứng 

Sau thời kỳ nhiễm trùng cấp, bệnh nhân nhiễm HIV rơi vào giai đoạn dài không triệu chứng lâm sàng, nhưng chẩn đoán huyết thanh lại khá dễ dàng, dựa vào sự hiện diện của kháng thể kháng HIV. 

Giai đoạn 3. Hội chứng hạch to toàn thân và kéo dài

Sau khi huyết thanh dương tính, 50-70% trường hợp xuất hiện hội chứng hạch to toàn thân và kéo dài. Hội chứng này được chẩn đoán khi có đủ các điều kiện sau:

Có ít nhất 2 hạch khác nhau (không kể hạch bẹn).

Mỗi hạch thường có đường kính trên 1 cm.

Hiện diện kéo dài trên 1 tháng.

Không giải thích được lý do nổi hạch (như  nổi hạch không do nhiễm trùng tại khu vực đó hoặc viêm hạch...)

Hay gặp nhất là hạch cổ, hạch dưới hàm và hạch nách. Một số hạch ít gặp hơn là hạch ở khuỷu tay, trung thất (trong lồng ngực), trong ổ bụng. 

Giai đoạn 4. Biểu hiện lâm sàng thực sự của AIDS 

Khi bệnh nhân được chẩn đoán là AIDS nghĩa là nhiễm trùng do HIV đã đến giai đoạn cuối cùng. Thời gian từ lúc xác định bệnh đến lúc chết thường không quá 2 năm, trung bình là 18 tháng. Riêng đối với trẻ em, thời gian này thường ngắn hơn, độ 10-12 tháng. Biểu hiện lâm sàng chính thường là nhiễm trùng cơ hội (ở phổi, hệ thần kinh, hệ tiêu hoá) hoặc ung thư. Thời gian bắt đầu có biểu hiện lâm sàng từ khi nhiễm HIV là từ 2 năm đến 10 năm. Thông thường nếu cơ thể yếu, có bệnh khác hoặc suy kiệt do sử dụng chất gây nghiện thì giai đoạn này sẽ đến sớm hơn.

-          Sốt kéo dài trên 1 tháng

 

-          Tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng

 

-          Ho kéo dài trên 1 tháng

 

-          Viêm ngứa da toàn thân

 

-          Gầy (giảm trêm 10% trọng lượng cơ thể)

 

-          Xuất hiện nhiều bệnh như ung thư, lao, … Người bệnh nhanh chóng tử vong tuỳ theo điều kiện chăm sóc và điều trị.

 

-          Xét nghiệm HIV dương tính.


Địa chỉ dịch vụ SKSS



Tình yêu, hôn nhân và sinh đẻ của những người bị viêm gan B

đăng 08:24, 12 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Theo thống kê trên thế giới có khoảng 350 triệu người nhiễm bệnh viêm gan B. Còn ở Việt Nam tỷ lệ nhiễm viêm gan B mãn tính khá cao (khoảng 1,5 triệu người). 

Vậy yêu một người bị viêm gan B thì khi hôn nhau có bị lây bệnh không? Đó là điều băn khoăn của nhiều người và bác sỹ thường khuyên rằng không nên hôn nhau. Nhưng yêu mà không hôn nhau thì thật khó phải không bạn? Vậy phải làm thế nào? Trước tiên bạn cần biết rằng khả năng hôn bị lây nhiễm viêm gan B là rất nhỏ, tuy nhiên vẫn cần phải phòng tránh lây nhiễm viêm gan B giữa những người yêu nhau. Nếu bạn đang yêu người bị nhiễm viêm gan B, bạn cần đi xét nghiệm máu, kết qủa xét nghiệm có thể có ba khả năng:

Một là kết quả cho thấy HBsAg âm tính. Điều này có nghĩa là bạn chưa bị nhiễm viêm gan B. Do đó, bạn có thể tiêm vacxin phòng viêm gan B để nâng cao sức miễn dịch của cơ thể đối với viêm gan B.

Hai là kết quả cho thấy Kháng-HBs dương tính. Điều này có nghĩa là cơ thể bạn đã có sức đề kháng với viêm gan B. Vì vậy, bạn không phải lo lắng bị lây nhiễm viêm gan B.

Ba là kết quả cho thấy HBsAg dương tính. Điều này có nghĩa là bạn đã bị nhiễm viêm gan B. Bạn cần phải điều trị.

Hiện nay, việc tiêm vacxin phòng viêm gan B đã không còn quá khó và đắt đỏ, bạn có thể chủ động tiêm phòng để giữ gìn cho bản thân khỏi bị lây nhiễm bệnh.

Người bị viêm gan B có nên kết hôn không?Điều này tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể mà xác định. Tốt nhất là chỉ khi nào triệu chứng của bệnh hết và công năng gan trở lại bình thường, duy trì ổn định một năm trở lên mới nên kết hôn. Bởi vì trong thời gian lo chuyện kết hôn, sự mệt nhọc, ăn uống không điều độ, quan hệ tình dục có thể làm cho gan viêm trở lại, bệnh tình nặng hơn.

Sau khi kết hôn, điều mà người bị bệnh viêm gan B cần chú ý đó là sinh hoạt tình dục phải điều độ vì khi quan hệ tình dục nhịp tim tăng nhanh, hô hấp giảm, huyết áp tăng…s ẽ tiêu hao sức lực nhất định và dẫn đến gan thiếu máu, thiếu oxy, có thể làm cho bệnh tình nặng hơn.

Mặt khác, quan hệ tình dục là một cách thức dễ lây bệnh viêm gan B, nhưng nếu làm tốt công tác dự phòng (tiêm vacxin phòng bệnh) thì hôn nhân của người bị viêm gan B không bị hạn chế.

Người mắc bệnh viêm gan B không nên uống thuốc tránh thai vì thuốc tránh thai có thể gây tác dụng phụ đối với gan, tốt nhất nên áp dụng biện pháp tránh thai dùng bao cao su.

Người mắc bệnh viêm gan B nếu muốn có con thì nên để triệu trứng hết và chức năng gan bình thường trở lại, ổn định khoảng một năm trở lại mới nên sinh con. Bệnh tình chưa ổn định, chức năng gan không bình thường, khi có thai và sinh đẻ sẽ làm tăng gánh nặng cho gan, khiến bệnh nặng hơn và còn có khả năng gây ra các hậu quả nghiêm trọng như đẻ non hoặc thai chết lưu…

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng người bị viêm gan B mang thai không gây ra thai dị dạng. Trong thời kỳ đầu mang thai (3-4 tháng đầu thai kỳ) độc tố của bệnh viêm gan B có thể ảnh hưởng đến thai nhi nhưng sau thời kỳ này thì thai không bị ảnh hưởng. Bởi vậy, người bệnh không phải quá lo lắng về việc này. Tuy nhiên, người mắc bệnh viêm gan B khi mang thai cần làm theo đúng chỉ dẫn của bác sỹ.

Khả năng truyền nhiễm bệnh từ cơ thể mẹ sang con tương đối lớn. Nhưng đa số trẻ đuợc bảo vệ thông qua dự phòng. Biện pháp có hiệu lực để dự phòng nhiễm bệnh cho trẻ là tiêm vacxin phòng bệnh viêm gan B: trong 24 giờ sau khi trẻ ra đời, một tháng tuổi, sáu tháng tuổi mỗi lần tiêm một mũi.

Nếu sau khi trẻ ra đời trong vòng sáu giờ tiêm một mũi HBIG, sau đó đến tháng thứ nhất, tháng thứ hai và tháng thứ bảy mỗi tháng tiêm một mũi vacxin phòng bệnh thì hiệu quả càng cao. Nhưng cũng có trường hợp bào thai bị nhiễm độc tố viêm gan B qua cuống rốn trong tử cung (chiếm 5-10%) thì trẻ sau khi sinh dù có tiến hành tiêm dự phòng viêm gan B cũng sẽ không có hiệu quả.

Người mẹ bị viêm gan B trong thời gian cho con bú nếu ăn uống kém và dinh dưỡng không đủ sẽ làm cho bệnh tình nặng hơn. Những sản phụ ăn uống tốt, không có triệu chứng, công năng gan bình thường có thể nuôi con bằng sữa mẹ. Tuy sữa mẹ có thể truyền nhiễm độc tố viêm gan B nhưng lượng độc tố tương đối ít. Nếu trẻ đã tiêm vacxin phòng bệnh thì có thể bú mẹ được.


Địa chỉ dịch vụ SKSS



Bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (STIs)

đăng 08:21, 12 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) là tình trạng nhiễm khuẩn hay nhiễm trùng do các tác nhân gây bệnh và truyền từ người này sang người khác qua đường tình dục. Việc phòng tránh STIs là trách nhiệm của mỗi người cũng như của cộng đồng để bảo vệ chính bản thân mỗi người và bảo vệ sự phát triển của xã hội.  


Đường lây truyền của STIs

Ngay từ tên gọi, chúng ta đã có thể biết chính xác đường lây chủ yếu của các bệnh này, đó là thông qua quan hệ tình dục, ở cả ba hình thức:

Quan hệ tình dục đường âm đạo: đưa dương vật vào âm đạo

Quan hệ tình dục đường miệng: đưa dương vật vào miệng hoặc dùng miệng để mút bộ phận sinh dục

Quan hệ tình dục đường hậu môn: đưa dương vật vào hậu môn

Ngoài ra, một số bệnh lây qua đường tình dục còn có thể truyền từ người này sang người khác thông qua một số đường khác như: từ mẹ truyền sang con, đường máu….

Tác nhân gây ra các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả ba nhóm: vi rút, vi khuẩn và ký sinh trùng.

Hiện nay, người ta đã tìm thấy khoảng hơn 20 loại bệnh lây qua đường tình dục, như: HIV/AIDS, lậu, giang mai, sùi mào gà, mụn rộp sinh dục, hạ cam, trùng roi âm đạo, nhiễm nấm sinh dục, chlamydia…

Phòng tránh STIs như thế nào là hiệu quả?

Việc hạn chế các hành vi nguy cơ có thể giúp bạn phòng tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cụ thể:

- Hiểu được tầm quan trọng của việc phòng tránh và điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục.

- Luôn luôn sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, tránh các hoạt động tình dục gây chấn thương như giao hợp đường hậu môn…

- Quan hệ chung thuỷ, một bạn tình, không quan hệ tình dục với gái mại dâm, với nhiều bạn tình hoặc với bạn tình đang mắc STIs.

- Tránh quan hệ tình dục khi đang mắc STIs.

- Phát hiện và điều trị bệnh sớm, triệt để. Khuyến khích bạn tình cùng điều trị.

Làm gì khi nghi ngờ mình hoặc bạn tình mắc STIs?

Khoảng một nửa số người nhiễm STIs không có triệu chứng gì hoặc có triệu chứng không rõ ràng, có thể tự "biến mất" (nhưng không có nghĩa là khỏi bệnh). Chính vì vậy, nếu bạn hoặc bạn tình có bệnh ở cơ quan sinh dục, nếu đã có quan hệ tình dục với một người mà bạn không biết chắc là có bệnh hay không, hoặc nếu cơ quan sinh dục của bạn hoặc bạn tình có biểu hiện khác thường… thì bạn nên nghi ngờ là mắc bệnh.

Đặc biệt là nếu bạn thấy có những dấu hiệu bất thường sau đây:

- Dương vật hay âm đạo có tiết dịch bất thường

- Cơ quan sinh dục ngứa, đau, rát, đỏ, có các nốt, các vết loét

- Tiểu đau hoặc rát, hoặc tiểu nhiều hơn bình thường

Trường hợp này bạn nên đi khám chuyên khoa da liễu tại các bệnh viện đa khoa Tỉnh/ Thành phố hoặc Viện da liễu. Đây là những cơ sở y tế có điều kiện xét nghiệm tốt, cán bộ y tế có trình độ, do đó việc chẩn đoán và điều trị bệnh chính xác. Bạn tuyệt đối không nên tự ý mua thuốc về điều trị lấy, vì có thể triệu chứng giống nhau nhưng không có nghĩa là mắc cùng một bệnh, do đó nếu không dùng thuốc đúng bệnh có thể nặng hơn hoặc dẫn đến hiện tượng "nhờn thuốc", khiến cho bệnh trở nên không chữa được. Khi được bác sỹ chẩn đoán và điều trị, bạn cũng cần tuyệt đối tuân thủ theo đúng chỉ dẫn của bác sỹ, dùng đúng liều, đúng thời gian và đi khám lại theo đúng hẹn.

Đồng thời, một trong những yếu tố giúp cho việc điều trị các bệnh STIs hiệu quả là điều trị cả bạn tình. Do đó, việc trao đổi và khuyến khích bạn tình tham gia khám và điều trị là rất cần thiết, tránh để tình trạng bệnh lây đi lây lại, khó chữa.

Tài liệu tham khảo:

1. Đường lối quốc gia chỉ đạo chương trình quản lý có hiệu quả các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở Việt Nam. Bộ Y tế-Viện da liễu trung ương 1996.

2. Nguyên lý y học nội khoa Harrysion, tập 2. NXB Y học 2000.

3. Bài giảng sản phụ khoa, tập 1. Đại học Y Hà Nội, 2002.

4. CD Room: STI information from Website-Clinic


Địa chỉ dịch vụ SKSS



Bệnh lậu

đăng 08:18, 12 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Bệnh lậu là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục được biết đến từ xưa. Đây là một bệnh nhiễm trùng, do lậu cầu khuẩn ''Neisseria gonorrhoeae'' gây nên.  


Bệnh lậu lây truyền như thế nào?

Bệnh lậu có nguyên nhân là do vi khuẩn gây ra. Vi khuẩn gây bệnh lậu không thể sống bên ngoài cơ thể quá vài phút, cũng như không thể sống trên bề mặt da của bàn tay, cánh tay, hay chân. Vì thế bệnh lậu không lây qua những hình thức giao tiếp thông thường như bắt tay, ôm hôn … Vi khuẩn lậu thường được tìm thấy ở âm đạo và đặc biệt hơn nữa là ở cổ tử cung.

Bệnh lậu lây truyền trong khi giao hợp không được bảo vệ, theo mọi hình thức (âm đạo, hậu môn, miệng). Ngoài ra, còn lây truyền từ mẹ sang con khi thai sổ qua ống đẻ.

Bệnh lậu biểu hiện như thế nào?


Nam giới: Thời gian ủ bệnh khoảng 2-7 ngày.

- Chảy mủ niệu đạo: Nhiều, đặc, sánh, màu vàng nhạt, hoặc trắng, tái diễn nhanh.
- Đái buốt đầu bãi tiểu.
- Phù nề bao quy đầu.
- Sưng đau mào tinh hoàn.


Nữ giới: Thời gian ủ bệnh từ 3-10 ngày, phần lớn không có biểu hiện gì, một số ít trường hợp cấp tính thì có biểu hiện như sau:
 

- Khí hư: Nhiều, đặc, sánh, màu xanh hoặc trắng.
- Âm đạo: Đỏ, lổn nhổn nhiều hạt sùi. Không đau hoặc chỉ đau ít.
- Chảy mủ trắng hoặc vàng nhạt từ hậu môn.
- Đái buốt, đái dắt.
Bệnh lậu tiến triển như thế nào?

Bệnh lậu tiến triển chậm, âm ỉ, thỉnh thoảng có các đợt cấp thì mới có biểu hiện như trên đã mô tả. Các biểu hiện có thể tự mất đi mà không cần điều trị gì, sau một thời gian lại tái diễn. Trong thời gian bệnh không có biểu hiện vẫn có thể lây bệnh cho bạn tình.

Những biến chứng của bệnh lậu

Biến chứng của bệnh lậu chủ yếu là vô sinh, chửa ngoài tử cung, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, tăng nguy cơ nhiễm HIV/AIDS….

Bệnh  lậu điều trị như thế nào?

Với những trường hợp bệnh lậu chưa có biến chứng, điều trị chủ yếu là dùng kháng sinh. Hiện nay thường dùng kháng sinh nhóm Cephalosporin thế hệ 3 (ceftriaxone, cefotaxime), hoặc Ciprofloxacine, Spectinomycine. Các thuốc trên được dùng đúng với một liều duy nhất tiêm hoặc uống.

Với những bệnh lậu có biến chứng (viêm mào tinh hoàn, viêm vòi trứng,…) việc điều trị phức tạp hơn, các kháng sinh được dùng với liều cao và kéo dài (2-4 tuần)

Nhiễm lậu cầu thường kèm theo nhiễm Chlamydia trachomatis do vậy cần kết hợp điều trị đồng thời cả lậu và Chlamydia trachomatis.

Điều quan trọng trong điều trị lậu nói riêng và các bệnh lây truyền qua đường tình dục nói chung là phải tiến hành điều trị cả bạn tình.


Địa chỉ dịch vụ SKSS



Bệnh Giang mai

đăng 08:13, 12 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Giang mai là bệnh xuất hiện từ thời thượng cổ, lây truyền chủ yếu qua đường tình dục. Đây là một bệnh nhiễm khuẩn do xoắn khuẩn Treponema pallidum gây nên. 


Bệnh Giang mai cũng là một bệnh do vi khuẩn gây ra. Xoắn khuẩn giang mai (T. pallidum) có sức đề kháng rất yếu với môi trường ngoại cảnh, chúng chỉ sống được không quá vài giờ. Ở môi trường khô, chúng chết nhanh chóng, ngược lại trong môi trường ẩm ướt, chúng có thể sống được vài chục phút. Xà phòng có thể tiêu diệt được xoắn khuẩn giang mai trong vài phút.

Bệnh giang mai lây truyền như thế nào?

Xoắn khuẩn giang mai xâm nhập trực tiếp vào cơ thể  khi giao hợp không được bảo vệ (đường âm đạo, hậu môn hay miệng), qua các vết xước trên da, niêm mạc khi tiếp xúc với dịch tiết từ tổn thương giang mai. Xoắn khuẩn giang mai còn có thể lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ bào thai từ tháng thứ 4 trở đi, do xoắn khuẩn xâm nhập máu thai nhi qua dây rốn.

Bệnh giang mai có biểu hiện như thế nào?

Các biểu hiện của bệnh phụ thuộc vào thời kỳ của bệnh. 
Thời gian ủ bệnh khoảng 3-4 tuần, sớm nhất là 10 ngày, muộn nhất là 90 ngày.
 
Săng giang mai: Là một vết trợt rất nông, hình tròn hoặc bầu dục, màu thịt tươi, không có mủ, không có vẩy, không đau rát (nếu không bị bội nhiễm). 
Săng có thể ở quy đầu, rãnh quy đầu, thân dương vật, môi lớn, môi bé, âm vật, âm đạo, nếp hậu môn, họng, lưỡi, đôi khi ở trán. Đó là những nơi mà xoắn khuẩn đã xâm nhập.

- Sưng hạch bẹn: Hạch bẹn sưng lên thành từng chùm, trong đó có một hạch to hơn các hạch khác, không đau. Xuất hiện sau săng khoảng vài ngày, cũng tự mất đi theo săng.

- Sẩn giang mai: Là những sẩn gồ cao trên mặt da, hình tròn hoặc bầu dục, rắn chắc, màu hồng đỏ, có khi tập trung thành đám, không gây đau. Sẩn giang mai thường xuất hiện ở rìa tóc, trán, gáy, lòng bàn tay, lòng bàn chân, kẽ mông, quanh hậu môn, âm hộ.

- Viêm hạch lan tỏa: các hạch vùng nách, bẹn, sau tai, dưới hàm trở nên chắc, cứng, không đau, di động ngay dưới da.


- Gôm giang mai: là những khối u sùi, có thể ở da, niêm mạc, cơ, xương. Ban đầu gôm rất chắc, cứng sau đó mềm dần và loét, khi loét chảy ra mủ sánh, đặc lẫn máu, không đau. Khi mủ chảy hết sẽ để lại một ổ loét tròn, đáy cứng, ổ loét này dần sẹo hóa. 


- Củ giang mai: là những tổn thương gồ lên mặt da (cao hơn sẩn), màu hồng đỏ, đường kính khoảng 1 cm, không đau. Thường tập trung thành từng đám, xếp theo hình nhẫn, hình cung hoặc vòng vèo. Củ giang mai không bao giờ tái phát trên sẹo cũ.

Tất cả các biểu hiện trên đều có thể tự mất đi mà không cần điều trị gì cả, sau đó tái diễn với mức độ nặng hơn.

Ngoài những biểu hiện trên, giang mai còn có những biểu hiện khác như tổn thương van tim, cơ tim, tủy sống (liệt), não (rối loạn tâm thần).

Bệnh giang mai tiến triển như thế nào?

Nếu không điều trị, giang mai tiến triển qua 3 thời kỳ.

- Thời kỳ đầu: kéo dài khoảng 6-8 tuần, tổn thương mới chỉ khu trú tại những vị trí mà xoắn khuẩn xâm nhập. Các biểu hiện trong giai đoạn này là săng, viêm hạch bẹn, chúng có thể tự mất đi mà không cần điều trị gì cả.

- Thời kỳ thứ hai: kéo dài khoảng 2 năm, tổn thương ở da, niêm mạc lan tỏa khắp cơ thể do xoắn khuẩn đã vào máu và phát tán. Các tổn thương thời kỳ này chủ yếu là sẩn, viêm hạch lan tỏa, phát ban, chúng cũng có thể tự mất đi mà không cần điều trị gì, sau đó tái phát với mức độ nặng hơn.

- Thời kỳ thứ ba: thường bắt đầu vào năm thứ ba của bệnh, kéo dài hàng chục năm, tổn thương các cơ quan, phủ tạng (gan, tim, thần kinh, cơ, xương…). Giai đoạn này người bệnh ít có khả năng lây nhiễm cho bạn tình vì xoắn khuẩn đã xâm nhập và khu trú vào phủ tạng, không còn ở da, niêm mạc nữa. Tổn thương giai đoạn này là gôm, củ giang mai, tim mạch, thần kinh, gan. Hiện nay rất hiếm gặp giai đoạn này do được chẩn đoán và điều trị sớm.

Bệnh giang mai có những biến chứng gì?

Giang mai có rất nhiều biến chứng, chúng có thể gây nguy hiểm cho tính mạng người bệnh. Có thể nói rằng “giang mai là một diễn viên biệt tài”, có thể đóng vai mang đặc điểm của hơn chục bệnh nội, ngoại khoa khác nhau, đơn giản vì xoắn khuẩn giang mai có thể gây tổn thương tất cả các cơ quan trong cơ thể, từ da, niêm mạc, mắt đến các nội tạng như gan, tim mạch, thần kinh. Một số biến chứng nguy hiểm là viêm động mạch chủ, phình động mạch chủ, bại liệt toàn thân, rối loạn tâm thần, viêm gan. Giang mai bẩm sinh có thể gây tử vong cho thai nhi hoặc dị dạng thai sau khi sinh.

Bệnh giang mai điều trị như thế nào?

Điều trị bệnh giang mai đã có kết quả rất khả quan, tránh được nhiều biến chứng nguy hiểm của bệnh. Việc lựa chọn phác đồ điều trị tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh, những thuốc điều trị hiện được Bộ y tế khuyến cáo sử dụng là Penicilline G, Tetracycline, Doxycicline.


Địa chỉ dịch vụ SKSS



Nhiễm Chlamydia

đăng 08:10, 12 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Nhiễm Chlamydia là tình trạng nhiễm khuẩn do Chlamydia tracomatis gây ra, có thể ở cơ quan sinh dục hoặc ở hệ thống cơ quan khác. 


Giống Chlamydia có nhiều loại nhưng chúng ta thường gặp là Chlamydia trachomatis. Ch.trachomatis còn có thể gây bệnh ở trực tràng, kết mạc mắt, gan, mô mềm.

Chlamydia là vi khuẩn ký sinh bắt buộc trong tế bào do vậy chúng không thể sống trong môi trường tự nhiên được.

Theo CDC - Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ - trên thế giới có khoảng 15 triệu người nhiễm Chlamydia, và số người mới nhiễm hàng năm khoảng 300 000 người. Trong thực tế nhiều trường hợp không được chẩn đoán, do vậy tỷ lệ ước lượng khoảng 5-10% dân số trong độ tuổi hoạt động tình dục. Ở Việt Nam chưa có số liệu thống kê chính xác về vấn đề này.

Chlamydia trachomatis lây truyền như thế nào?

Cách thức lây truyền Ch.trachomatis tương tự như bệnh lậu, tức là chỉ lây truyền qua giao hợp không bảo vệ, theo mọi hình thức (âm đạo, hậu môn, miệng). Ngoài ra chúng còn có thể lây truyền từ mẹ sang thai khi thai sổ đẻ.

Nhiễm Chlamidia có biểu hiện như thế nào?

Có ít nhất 50% trường hợp không có biểu hiện gì đặc biệt, dễ bỏ qua. Thời gian ủ bệnh khoảng 5-15 ngày.

Ở nam giới, các biểu hiện có thể gặp là tiết dịch niệu đạo màu trắng, trong, không mùi, số lượng ít kèm theo có đái dắt, ngứa niệu đạo. Có thể gặp viêm tinh hoàn, viêm mào tinh hoàn.

Ở nữ giới, biểu hiện có thể gặp là rối loạn kinh nguyệt, khí hư bẩn trắng đục, không mùi. Ngoài ra có thể kèm đau bụng dưới rốn, đau lưng, sưng đau hạch bẹn rồi mủ hóa và vỡ.

Chlamydia còn là nguyên nhân gây bệnh u hạch bạch huyết hoa liễu, biểu hiện là phù nề các bộ phận sinh dục ngoài, sưng đau hạch bẹn.

Chlamydia tiến triển như thế nào?

Như đã nêu trên, nhiễm Chlamydia tiến triển từ từ, ít nhất 50% không có biểu hiện gì. Bệnh tiến triển mạn tính, nhưng luôn có khả năng lây nhiễm cho bạn tình. Nếu không được điều trị đúng thì sẽ không bao giờ khỏi được.

Chlamydia có biến chứng gì?

Ở nam giới, biến chứng chủ yếu là viêm tinh hoàn và viêm mào tinh hoàn, do đó có thể gây vô sinh. Ở nữ giới, biến chứng thường gặp là viêm tiểu khung (bao gồm viêm vòi trứng, buồng trứng, viêm phúc mạc chậu hông), viêm nội mạc tử cung, những biến chứng này chẳng những có thể gây vô sinh mà còn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng (đặc biệt là viêm phúc mạc tiểu khung).

Điều trị Chlamydia như thế nào?

Nhiễm Chlamydia được điều trị nội khoa, sử dụng kháng sinh diệt vi khuẩn. Các kháng sinh thường dùng là Doxycyclin, Tetracyclin, Erythromycine. Với nhiễm Chlamydia chưa có biến chứng thì thời gian điều trị khoảng 10 ngày, với những trường hợp có biến chứng thì thời gian điều trị sẽ kéo dài hơn.


Địa chỉ dịch vụ SKSS



Bệnh Hạ cam

đăng 08:08, 12 thg 2, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế

Webdanang.com - Hạ cam là bệnh nhiễm khuẩn sùi loét bộ phận sinh dục do trực khuẩn Hemophilus ducreyi gây nên. Hạ cam gặp ở khắp mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng nhiệt đới đang phát triển, tỷ lệ khoảng 50-60/100.000 dân. Hạ cam xuất hiện phổ biến nhất là các quần thể dân cư sống ở thành thị nhưng có điều kiện kinh tế xã hội thấp kém, hoặc gái mại dâm, nghiện chích ma túy, đây cũng là các yếu tố nguy cơ của nhiễm HIV. 


Vi khuẩn H.ducreyi chỉ có thể phát triển được nhờ các yếu tố có trong hồng cầu (protoporphirin) do vậy H.ducreyi không sinh sống trong môi trường ngoài bình thường được.

Bệnh hạ cam lây truyền như thế nào?

Hạ cam chỉ lây truyền qua giao hợp khi giao hợp không được bảo vệ, theo mọi hình thức (âm đạo, hậu môn, miệng) mà không lây truyền theo những đường khác như tiêm chích, tiếp xúc thông thường...

Bệnh hạ cam có biểu hiện như thế nào?

Thời kỳ ủ bệnh của hạ cam từ 1-15 ngày.

Bệnh hạ cam thường biểu hiện ra bên ngoài bởi những vết loét ranh giới rõ rệt, thường giới hạn ở khu vực bộ phận sinh dục ngoài và đáy chậu. Các vết loét này tiết dịch màu vàng nhạt, đáy nổi hạt, rất đau. Ngoài ra còn có những biểu hiện khác như sẩn loét, sưng đau hạch bẹn khi vỡ có chảy mủ lẫn máu.

Bệnh hạ cam tiến triển như thế nào?

Bệnh hạ cam tiến triển cấp tính và bán cấp tính, đặc biệt do có biểu hiện đau, loét nên thường được phát hiện sớm, điều trị kịp thời.

Bệnh hạ cam có biến chứng gì?

Các ổ loét của hạ cam có thể bị nhiễm khuẩn, có thể gây viêm phần phụ do bội nhiễm, áp xe hạch bẹn.

Điều trị bệnh hạ cam như thế nào?

Hiện nay vi rút H.ducreyi đã kháng lại nhiều kháng sinh, đại dịch HIV/AIDS bùng phát làm cho điều trị hạ cam trở nên khó khăn hơn. Tuy nhiên hạ cam có thể điều trị khỏi hoàn toàn bằng thuốc, các thuốc có hiệu quả đối với bệnh hạ cam là Erythromycin, Ciproflocacine, Ceftriaxone, Trimethoprim/Sulfamethoxazole. Tuy nhiên, việc điều trị cần phải theo chỉ định của bác sỹ.

Nguồn tin: Tâm sự bạn trẻ


Địa chỉ dịch vụ SKSS



1-10 of 17