Phòng Trà Kiệu

đăng 20:32, 12 thg 8, 2010 bởi Hiền Đỗ Thế

     Trà Kiệu thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 50 km về hướng tây nam. Trà Kiệu được xác định là kinh đô của vương quốc Champa ở thời sơ kỳ. Theo sử liệu ghi lại, đây là kinh đô đầu tiên và cổ nhất của Champa, được xây dựng vào cuối thế kỉ IV dưới triều vua Bhadresvara với tên gọi Sinhapura, nghĩa là Thành phố Sư Tử.


     Năm 1927-1928, J.Y.Claeys đã tiến hành khai quật khu di tích này. Hiện tại có 43 tác phẩm, phần lớn có niên đại thế kỉ VII-VIII và XI-XII đang được trưng bày tại phòng Trà Kiệu của bảo tàng Điêu Khắc Chăm.

1. Đài thờ Linga-Yoni.


Niên đại : Thế kỉ VII - VIII.
Chất liệu : Đá sa thạch .
Kí hiệu :[2.2].
Xuất xứ: Trà Kiệu.

     Đài thờ gồm phần cột hình trụ bên trên, chia làm ba phần gọi là Linga, và phần bệ hình vuông có rãnh dẫn nước nằm bên dưới gọi là Yoni. Linga theo tiếng Phạn cổ thường được hiểu là một hòn đá dựng lên tượng trưng cho dương vật. Thần Siva có mười hai biểu tượng, trong đó Linga là biểu tượng nổi tiếng nhất, tượng trưng cho năng lực sáng tạo siêu việt của thần. Yoni cũng có nguồn ngốc từ tiếng Phạn, nguyên nghĩa là “ Bầu vú, nguồn gốc”.

     Trong những đài thờ kết hợp Linga và Yoni, Linga tượng trưng cho nguyên lí dương và Yoni tượng trưng cho nguyên lí âm. Sự giao hoà âm – dương là nguồn gốc của sự sinh sôi nảy nở của vạn vật trong vũ trụ và cũng là một nét đặc trưng trong tập tục thờ cúng của các cư dân nông nghiệp.

 

 2. Đài thờ Trà Kiệu.


Niên đại : Thế kỉ VII - VIII. 
Chất liệu : Đá sa thạch. 
Kí hiệu : [22.2]. 
Xuất xứ: Trà Kiệu.

     Kết cấu hiện tại của đài thờ gồm hai phần.  

    

- Phần bên trên gồm hai thớt tròn, được trang trí với những cánh hoa sen cách điệu trên và dưới đối xứng nhau. Thớt phía trên thể hiện Yoni, với rãnh và vòi dẫn nước, ôm lấy một linga.

      - Phần bên dưới là một đế thờ hình vuông gồm bốn mặt với vô số hình người được chạm khắc tinh xảo. 


Hiện có nhiều ý kiến xoay quanh ý nghĩa của đài thờ này. Năm 1930, Przyluski cho rằng những trang trí trên bốn mặt của đài thờ minh hoạ truyền thuyết việc thành lập nước Phù Nam. Một năm sau đó, Coedes đã bác bỏ giả thuyết này, và cho rằng các cảnh của đài thờ thể hiện những giai đoạn khác nhau của cuộc đời thần Krishna như được kể trong Bhagavata Puruna. Cũng có nhiều ý kiến khác cho rằng đài thờ kể chuyện một trích đoạn trường ca Ramayana, chủ đề là lễ cưới của nàng Sita với hoàng tử Rama.

     Từ những hình tượng nhân vật đuợc điêu khắc chạm trổ rất trau chuốt , đều đặn đặc biệt là hình ảnh mười một vũ nữ Apsara nhảy múa vô cùng mềm mại, uyển chuyển, gợi cảm đến những kiểu trang phục, trang sức, kiểu tóc được thể hiện rất tỉ mỉ, tác phẩm hoàn toàn xứng đáng là một trong những kiệt tác nghệ thuật điêu khắc Chăm. Đài thờ được đưa về bảo tàng năm 1901. 

3. Phù điêu Vishnu.


Niên đại : thế kỉ XI - XII. 
Chất liệu : đá sa thạch. 
Kí hiệu: [18.4]. 
Xuất xứ: Trà Kiệu.

     Thần Vishnu theo Ấn độ giáo là vị thần bảo tồn, canh giữ không trung. Trong thần thoại Ấn Độ, vị thần này có rất nhiều kiếp hóa thân khác nhau.




     Tấm tympan với viền khung xung quanh hình lá đề, bên trong thể hiện thần Vishnu ngồi xếp bằng theo kiểu Ấn Độ trên thân mình cuộn thành chín khúc của rắn Naga. Phía sau lưng thần, rắn Naga mọc lên mười ba đầu tạo thành một tán che cho thần. Bốn tay của thần cầm bốn vật tượng trưng gồm : chiếc gậy Kaumodaki, chiếc tù và bằng ốc biển Shankha, chiếc đĩa rỗng đáy Sudarsana và đoá hoa sen ( đã gãy ). Đề tài về thần Vishnu xuất hiện không nhiều trong điêu khắc Champa vì thế tác phẩm này rất quí hiếm và có giá trị trong việc tìm hiểu nghệ thuật điêu khắc và tôn giáo của Champa.

4. Đài thờ Vũ nữ Trà Kiệu

  
Niên đại : Thế kỉ VII-VIII. 
Chất liệu : đá sa thạch. 
Kí hiệu : [22.5]. 
Xuất xứ: Trà Kiệu.

  Hai mặt của đài thờ thể hiện vũ nữ Apsara trong tư thế múa tribhanga với thân mình uốn cong mềm mại, uyển chuyển cùng nhạc công với vẻ mặt tươi tắn chơi đàn Vina- một loại nhạc cụ truyền thống xuất xứ từ Ấn Độ. Các Apsara mặc một loại váy bằng voan mỏng, bó sát người , có thể nhận biết được thông qua chiếc nơ lớn được thắt lại ở cạnh hông sau lưng. Cổ, tay, vòng eo và  bên ngoài chiếc sampot là  những chuỗi hạt ngọc. Phía sau nhạc công và vũ nữ là những cánh hoa sen được cách điệu tạo thành những đường kỷ hà sắc nét làm tôn thêm vẻ quyến rũ của các vũ nữ. Đài thờ còn lại hiện nay chỉ là 1/16  của đài thờ xưa kia.

     Apsara được xem là những vũ nữ thiên tiên. Họ được sinh ra từ đại dương khi các thần khuấy biển sữa.

5. Thần hộ pháp ( Siva ? )


Niên đại : Thế kỉ VII - VIII. 
Chất liệu : đá sa thạch. 
Kí hiệu : [3.2]. 
Xuất xứ: Trà Kiệu.

      Theo Henri Parmentier, tác phẩm thể hiện thần Siva; nhưng căn cứ vào đồ trang sức thể hiện trên tóc và dây rắn Naga quấn quanh mình thần, và một số yếu tố khác, Boisselier kết luận tác phẩm kí hiệu [3.1] kết hợp với tác phẩm đối xứng [3.2], tạo thành một cặp thần hộ pháp.

     Thần đứng trong tư thế tribhanga, thân mình hơi nghiêng sang phải, vẻ mặt điềm tĩnh, mái tóc được tết thành nhiều lọn trang trí tạo thành một búi cao như chiếc mũ miện Kirita mukuta. Dù bị hư hại nhiều, tác phẩm vẫn là một trong số những hiện vật đẹp của nghệ thuật điêu khắc Chăm.

Comments