Bảo tàng Chăm - Các phòng trưng bày

Các phòng trưng bày tại Bảo tàng Chăm

  • Phòng trưng bày mở rộng  Phòng trưng bày mở rộng được chính thức khai trương từ ngày 28 tháng 4 năm 2004, trưng bày gần 150 tác phẩm thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Phòng Tháp Mẫm - Bình Định      Nằm cách Đà Nẵng 300km về hướng Nam, Bình Định ngày nay còn khá nhiều di tích Chăm, tiêu biểu là hệ thống đền tháp đồ sộ được xây dựng ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Phòng Đồng Dương Đồng Dương là một di tích Chăm tại làng Đồng Dương, xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 60 km ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Phòng Mỹ Sơn          Mỹ Sơn từng là một trung tâm tín ngưỡng quan trọng của vương quốc Chămpa, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam ngày nay, cách di tích Trà Kiệu (Simhapura - kinh ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Phòng Trà Kiệu      Trà Kiệu thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 50 km về hướng tây nam. Trà Kiệu được xác định là kinh ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Hành lang Quảng Ngãi      Hành lang Quảng Ngãi hiện trưng bày 14 hiện vật niên đại từ cuối thế kỉ X đến giữa thế kỉ XI, hầu hết được khai quật và mang về ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Hành lang Quảng Nam Hành lang Quảng Nam hiện trưng bày 32 hiện vật, niên đại thế kỉ VII – VIII và IX – X, được khai quật từ nhiều địa phương ở tỉnh Quảng Nam ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Phòng Quảng Trị    Phòng Quảng Trị hiện trưng bày 14 tác phẩm, hầu hết có niên đại thế kỉ VII-VIII, được khai quật từ các địa danh ở tỉnh Quảng Trị như ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
Hiển thị bài đăng 1 - 8trong tổng số 8. Xem nội dung khác »


Phòng trưng bày mở rộng

đăng 21:31, 12 thg 8, 2010 bởi Hiền Đỗ Thế


 Phòng trưng bày mở rộng được chính thức khai trương từ ngày 28 tháng 4 năm 2004, trưng bày gần 150 tác phẩm thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau, chủ yếu được sưu tầm sau năm 1975 và được chia thành các bộ sưu tập : Quảng Trị, Trà Kiệu, Quảng Nam, An Mỹ, Chiên Đàn, Bình Định – Tháp Mẫm, Quá Giáng – Khuê Trung và Phú Hưng. 

1. Nữ thần An Mỹ

Niên đại : thế kỉ VIII. 
Chất liệu : đá sa thạch. 
Kí hiệu: [ 802 / Đ43]. 
Xuất xứ: An Mỹ

(hình Nữ thần An Mỹ)     Nữ thần được thể hiện với khuôn mặt hơi vuông, hai má bầu bĩnh. Phía sau đầu thần là một vòng hào quang, đôi mắt mở rộng, có con ngươi, cánh mũi rộng, môi dày và trên miệng có thoáng một nụ cười nhẹ. Tất cả những đặc điểm này tạo nên  gương mặt thần một nét phúc hậu. Sợi dây trên cổ được trang trí với những chuỗi hoa sinh động. Bộ ngực to, tròn nhưng nhìn chung chưa hài hoà với bố cục của tác phẩm.

 

2. Tượng khỉ Hanuman

Niên đại : thế kỉ XI-XII 
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu: [ 927 / Đ69]
Xuất xứ: 
Phú Hưng

    


Hanuman là một trong những nhân vật chính của trường ca Ramayana, là vị tướng trung thành giỏi giang của hoàng tử Rama mà người Ấn Độ rất sùng kính. Hanuman được tạc ở dạng tượng tròn, vẻ mặt hồn nhiên ngộ nghĩnh, ngồi theo kiểu Java. Trang phục là 1 loại sampot ngắn đến đầu gối chân. Tay phải của Hanuman đặt ngửa trên vế phải, lòng bàn tay cầm 1 vật hình bán cầu. Tay trái cũng cầm vật tương tự áp vào ngực trái. Theo trường ca Ramayana, hai nửa bán cầu này có thể là hai vật tượng trưng cho hai hòn đá mà Hanuman dùng để tạo ra ngọn lửa đốt cháy vương quốc Sri Lanka của quỷ vương Ravana sau khi khỉ cứu thoát công chúa Sita.
 

3. Voi.

Niên đại : thế kỉ XI-XII 
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu: [ 939 / Đ81]
Xuất xứ: 
Phú Hưng

  

  

 Voi là một trong những đề tài phổ biến trong điêu khắc Chăm. Có lẽ do voi được sử dụng nhiều trong chiến trận cũng như sinh hoạt đời thường, hình tượng voi trong điêu khắc Chăm được thể hiện rất thật và rất gần gũi. Đôi khi voi được cách điệu với vài đoá hoa trên đầu khá dí dỏm, vui tươi.

 

4. Trang trí kiến trúc.

Niên đại : thế kỉ XI-XII
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu: [ 825 / Đ54]
Xuất xứ: 
Chiên Đàn

     


Tác phẩm là một chi tiết kiến trúc, thể hiện một makara miệng đang nhả ra một vũ nữ nhỏ. Vũ nữ đang ở tư thế múa mềm mại, một chân quỳ, một chân đưa cao ra phía sau. Toàn bộ tác phẩm toát lên vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng. Trang trí kiến trúc là đề tài nổi bật của bộ sưu tập Chiên Đàn được phát hiện tại tháp Chiên Đàn, Tam Kỳ, Quảng Nam vào năm 1989.

 

5. Bia.

Niên đại : thế kỉ X. 
Chất liệu : đá sa thạch. 
Kí hiệu: [ĐN 183]. 
Xuất xứ: 
Khuê Trung.

    Đây là một trong số hơn 120 tấm văn bia được tìm thấy tại miền trung Việt Nam, góp phần  quan trọng vào việc tìm hiểu lịch sử và nghệ thuật điêu khắc - kiến trúc Chăm. Các dòng chữ trên bốn mặt bia được chạm khắc rất tỉ mỉ. Chữ Chăm cổ được phát triển dựa trên tiếng Phạn.

 

6. Bò thần Nandin.

Niên đại : thế kỉ VII - VIII
Chất liệu : 
đá sa thạch
Kí hiệu: [
 7.2 ]
Xuất xứ: 
Quảng Nam

  

  

 Bò Nandin, hay còn gọi là Nandi, là con vật cưỡi trung thành của Siva. Trong nhiều phù điêu, thần Siva thường được thể hiện đi cùng với con vật này. Đôi khi bò được chạm trổ ở dạng tượng tròn, độc lập và được đặt ở trước các cổng ra vào đền. Ở tác phẩm này, bò đang nằm vởi vẻ mặt hiền lành, trầm tư, cổ đeo lục lạc khá ngộ nghĩnh.



Phòng Tháp Mẫm - Bình Định

đăng 21:19, 12 thg 8, 2010 bởi Hiền Đỗ Thế

     Nằm cách Đà Nẵng 300km về hướng Nam, Bình Định ngày nay còn khá nhiều di tích Chăm, tiêu biểu là hệ thống đền tháp đồ sộ được xây dựng liên tục trong thời gian từ thế kỉ XI đến XV khi trung tâm chính trị của Champa đặt tại đây. Trong đợt khai quật năm 1934 và 1935 tại gò đồi Tháp Mẫm - Bình Định, J.Y Clayes đã phát hiện được rất nhiều hiện vật đẹp như rồng, voi-sư tử, chim thần Garuda, tượng và phù điêu các nam thần, nữ thần, vũ nữ...tiêu biểu cho Phong cách Tháp Mẫm. Hiện tại phòng Tháp Mẫm – Bình Định trưng bày 67 hiện vật, niên đại từ thế kỉ XII – XV. 

1. Thần Brahma.

Niên đại : thế kỉ XIII - XV 
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [19.8]
Xuất xứ: Tháp Mẫm
    
 
Brahma là thần sáng tạo, một trong ba vị thần quan trọng nhất của Ấn Độ giáo. Đôi khi  Brahma còn được xem là thần của sự thông thái. Có nhiều giai thoại thú vị về sự ra đời của Brahma. Theo Puranas, Brahma được sinh ra từ một đoá hoa sen mọc từ rốn của thần Vishnu vào buổi bình minh của vũ trụ. Một giai thoại khác lại cho rằng Brahma sinh ra từ một quả trứng vàng có tên là Hiranyagarbha. Khi quả trứng tách ra làm hai nửa, Brahma sinh ra và các phần còn lại của quả trứng ngay lập tức hoá thành núi non, sông ngoài vạn vật, mọi sự sống trong vũ trụ bắt đầu từ đó.

      Nghệ thuật truyền thống thể hiện Brahma ở dạng phù điêu với bốn đầu, bốn tay cầm bốn vật tượng trưng. Mỗi cái đầu của thần được xem như tượng trưng cho một pho kinh Veda. Vật cưỡi của thần là chú ngỗng Hamsa. Mặc dù là một trong ba vị thần tối cao, ở Ấn Độ Brahma ít được thờ cúng hơn so với hai vị thần còn lại là Vishnu và Shiva.
 

2. Gajasimha.


Niên đại: Thế kỉ XIII
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [38.7]
Xuất xứ: Tháp Mẫm

    
 Gajasimha, hay còn gọi là voi-sư tử, là con vật thần thoại Ấn Độ. Thông thường, đầu voi tượng trưng cho sự thông thái của các thần và mình sư tử thể hiện uy quyền của các vua. Tác phẩm thể hiện Gajasimha kích thước to lớn, trong tư thế đứng, cổ đeo lục lạc, vòi vươn lên cao vừa trang nghiêm vừa ngộ nghĩnh.

3. Thần Siva.

Niên đại : thế kỉ XIII - XIV
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [3.17]
Xuất xứ: Tháp Mẫm


  Trong số các vị thần Ấn Độ giáo, Shiva là vị thần phức tạp nhất, và đồng thời có nhiều quyền năng nhất. Thông thường người ta biết đến Shiva như là vị thần huỷ diệt, đồng thời cũng là thần sáng tạo. Ngoài ra, theo thần thoại Ấn Độ, Shiva còn là vị thần của những vũ điệu ( dõng chúa ), thần sơn cước, thần chết. Shiva được thờ cúng rộng rãi duới hình dạng một linga.

     Trong nghệ thuật điêu khắc Chăm, tượng và phù điêu Shiva chiếm số lượng tương đối lớn, được thể hiện ở nhiều phong cách nghệ thuật, nhiều tư thế khác nhau. Trong tập tục của người Chăm xưa, các vị vua  có công trạng sau chết thường được phong thần , và thờ thần Shiva cũng chính là thờ vua. Các vua Chăm  tự nhận mình là các hoá thân của thần Siva, được tái sinh trên cõi đời này để cứu giúp thần dân của họ vì vậy các vua thường kết hợp tên mình với tên gọi của thần Siva.

     Tác phẩm kí hiệu [3.17] thể hiện Siva trong tư thế ngồi xếp bằng, trên mình có sợi dây rắn Naga quấn qua vai. Mặc dù phần đầu, hai cánh tay phụ, một phần tay phải trước và những vật cầm tay đã bị gãy vỡ, tác phẩm vẫn còn rõ những chi tiết chạm trổ cầu kỳ, tinh xảo thể hiện qua các đồ trang sức trên cổ, tay và trang phục. Tác phẩm mang phong cách Tháp Mẫm, tuy nhiên motif chuỗi ngọc trai gợi nhắc đến phong cách Mỹ Sơn A1, một ví dụ điển hình cho khuynh hướng kế thừa những chi tiết của các phong cách nghệ thuật đi trước của các tác phẩm điêu khắc Chăm.

4. Thủy quái Makara.

Niên đại : thế kỉ XIII
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [42.49]
Xuất xứ: Tháp Mẫm

    
Tác phẩm là một tượng tròn, ở tư thế nằm, được cách điệu với sự pha trộn nhiều chi tiết của nhiều con vật khác nhau, hai chân trước cùng đầu vươn cao, lòng bàn chân mở ra phía trước tạo nên tư thế vừa ngộ nghĩnh vừa hung dữ.

     Theo thần thoại Ấn Độ, thủy quái Makara là vật cưỡi của thần đại dương Varuna. Trong điêu khắc Chăm, Makara còn được gọi là rồng, thường hay được thể hiện thành một cặp đôi đối xứng nhau, đặt ở lối vào các ngôi đền,  giữ  gìn sự yên tĩnh, tôn nghiêm cho nơi thờ cúng, trú ngụ của các vị thần linh.

5. Rồng.

Niên đại : thế kỉ XIII
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [42.48]
Xuất xứ: Tháp Mẫm


     Rồng được thể hiện ở dạng tượng tròn, tư thế nằm, hai chân trước đặt hướng về trước,  hai chân sau đưa ngược lên về sau tạo nên dáng vẻ rất ngộ nghĩnh. Chiếc vòng lục lạc đeo ở cổ khắc họa thêm nét sinh động, vui tươi. Đầu rồng có vẻ chưa tương xứng với toàn bộ bố cục tác phẩm. Các chi tiết tinh xảo trên mình, đầu và đuôi rồng là sự kết hợp của nhiều con vật khác nhau. Toàn bộ tác phẩm thể hiện sự khéo léo, óc sáng tạo và tính hài hước của các nghệ sĩ Chăm.

     Thông thường, rồng được thể hiện thành một cặp đôi, đặt song song trước lối ra vào của tháp Chăm. Hiện vật còn lại cùng cặp với hiện vật này đang được trưng bày tại bảo tàng Guimet ở Paris. 

6. Chim thần Garuda.

Niên đại: thế kỉ XIII 
Chất liệu: đá sa thạch
Kí hiệu: [41.29]
Xuất xứ: Bình Định


     Garuda có mình người, mỏ và cánh của chim nhưng đầu và chân lại giống sư tử. Chim đứng xòe cánh, tay phải cầm một con rắn  hai đầu, miệng ngậm đuôi rắn, chân phải đạp lên một đầu rắn khác.

     Garuda là vật cưỡi của thần Vishnu và nữ thần Laksmi.  Thần thoại Ấn giáo cho rằng Garuada và Naga luôn bất hoà với nhau và mối bất hoà này bắt nguồn từ việc mẹ của Garuada bị mẹ của loài rắn phỉ nhục. Các nghệ sĩ Chăm đã dành nhiều tác phẩm thể hiện chim thần Garuda ở dạng phù điêu hoặc tượng tròn.  

7. Đài thờ.

Niên đại : thế kỉ XII
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [ 22.56]
Xuất xứ: Bình Định)

     Đài thờ là một thớt tròn, xung quanh được trang trí với 23 bầu vú phụ nữ đầy đặn, căng tròn, đường kính mỗi bầu là 11cm. Phía trên và dưới của vòng tròn vú là các đường xoắn chập hai đầu dây rất tỉ mỉ, theo phương thẳng đứng. Đây là những kiểu thức trang trí rất phổ biến trong điêu khắc Chăm vào thế kỉ XII – XIV.

     Đài thờ xứng đáng là một kiệt tác của điêu khắc Chăm, thể hiện ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực và xã hội mẫu hệ.

Các bộ sưu tập

  • ĐÁ - Đài thờ Đài thờ Trà Kiệu- Số đăng ký: 22.2- Chất liệu: Sa thạch- Nguồn gốc: Trà Kiệu – Quảng Nam    - Niên đại: Thế kỷ VII - VIII- Kích thước:191cm x 191 ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • ĐÁ - Tượng thần Tượng Shiva 3.3- Số đăng ký: 3.3- Chất liệu: Sa thạch - Nguồn gốc: Mỹ Sơn – Quảng Nam - Niên đại: TK VII - VIII - Kích thước:182 cm x 59 ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • ĐÁ - Vật linh Từ ngữ "vật linh" được dùng để chỉ các các tượng thần mang hình dáng động vật hoặc hình dáng một vật thể do con người sáng tạo ra. Như ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Đất nung - Tượng đất nung 18.3 Laksmi    Laksmi là nữ thần của may mắn và hạnh phúc. Bà là nửa kia của thần Visnu, vị thần của sinh trưởng và bảo tồn.  Visnu có ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Chất liệu: đồng - Tượng Bồ tát Tara Tượng Bồ tát TaraSố đăng ký : 535 KL 103Niên đại : Cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10 Xuất xứ : Đồng Dương- Quảng NamKích thước : 114 cm ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 6. Xem nội dung khác »

Phòng Đồng Dương

đăng 21:13, 12 thg 8, 2010 bởi Hiền Đỗ Thế

Đồng Dương là một di tích Chăm tại làng Đồng Dương, xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 60 km về phía tây nam.

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một tấm bia khắc vào năm 875 có nói đến việc một vị vua Chămpa đã xây dựng ở đây một khu đền tháp để dâng cúng cho  "Lakshmindra Lokeshvara", danh xưng này được hiểu là tên chỉ một hiện thân của bồ tát Avalokitesvara (Quán Thế Âm) hoặc là cách ghép tên gọi một vị Bồ tát với tên của vị vua đương thời. Văn bia cũng nhắc đến tên gọi Indrapura, được hiểu là kinh thành Indra, điều này cho thấy sự xuất hiện của một triều đại mới và nhiều nhà nghiên cứu xác định đó là triều vua Indravarman II. Thời điểm này cũng trùng hợp với thời điểm bắt đầu xuất hiện tên gọi "Chiêm thành" trong các sử liệu Trung Hoa (năm 877)   mà trước đó chỉ thấy chép tên nước là Lâm Ấp hoặc Hoàn Vương.

 Theo khảo sát vào năm 1902 của Henri Parmentier, di tích này gồm tòa nhà tu viện và các đền tháp được xây dựng nối tiếp nhau theo chiều đông - tây, kéo dài trên một trục hơn 1300 mét. Khu đền thờ chính có tường thành bao bọc, chiều dài 326 mét chiều rộng 155 mét. 
 
 (Sơ đồ di tích Đồng Dương)

Trong khu đền chính, có 3 nhóm kiến trúc cách nhau bằng những khoảng sân. Nhóm trước (phía đông) còn lại dấu vết của một toà nhà dài có hai hàng cột song song theo chiều đông tây, mỗi hàng có 8 cột. Tại đây tìm thấy những phiến đá của một đài thờ (ký hiệu 22.25) và một tượng Phật (ký hiệu 13.5) kích thước lớn (cao 1m 62) trong tư thế ngồi trên ghế, hai tay để trên đầu gối, chân buông thẳng xuống nền (được goi là "kiểu ngồi châu Âu", để phân biệt với kiểu ngồi xếp bàn hai chân hoặc một chân). Ở các góc đài thờ có những tượng nhỏ thể hiện hình ảnh những vị tu sĩ đang dâng hoa hoặc trầm hương cúng dường Phật (44.15a, 44.15.b, 44.258). Tại đây cũng tìm thấy một số tượng các vị thần bảo vệ giáo luật của Phật (Dharmapala hay Deva). Theo các nhà nghiên cứu, toà nhà này là nơi tập trung tu tập của các tín đồ Phật giáo, gọi là Vihara, nghĩa là "tu viện".




(Ảnh Deva 3.5,Các tu sĩ 44.15.b, 44.258)

 Nhóm giữa chỉ còn dấu vết của chân tường, bậc thềm của một ngôi nhà nhỏ hơn tu viện ở nhóm đông. Ở khu vực này đã tìm thấy 4 pho tượng hộ pháp cao gần hai mét. (Ảnh 9.11, 9.12, 9.15)



 Nhóm sau (phía tây) còn lại dấu tích nhiều ngôi tháp gồm một tháp lớn ở trung tâm và các tháp nhỏ ở chung quanh. Ở khu vực này cũng tìm thấy những phiến đá của một đài thờ tương tự như đài thờ ở tu viện phía trước. Các bức chạm khắc trên các phiến đá của đài thờ thể hiện cảnh sinh hoạt cung đình và một số trích đoạn về cuộc đời Phật Thích ca (Đài thờ ký hiệu 22.24 ). Ngoài ra còn có các tượng La hán (Ảnh 13.10, 13.11).

 Các tượng thần phương hướng ( 3.5, 3.14, BTDN 13) được đặt trong các tháp phụ chung quanh tháp chính.

 Khu đền tháp Đồng Dương không chỉ đánh dấu sự ra đời một triều đại mới hay một tên gọi mới cho đất nước Chămpa mà còn đánh dấu sự thay đổi trong tín ngưỡng từ việc tôn thờ thần Siva là thần bảo hộ chính (như ở di tích Mỹ Sơn) sang thờ các vị Phật và Bồ tát. Sự thay đổi về nội dung cũng đi liền với sự thay đổi trong cách thể hiện nghệ thuật nếu so sánh với cách tạc tượng và trang trí hoa văn ở các tượng và tháp ở phong cách Mỹ Sơn E1. Tượng người chạm khắc trên các đài thờ và tượng ở Đồng Dương có nét cường điệu, đàn ông có khuôn mặt gần như vuông, trán thấp, lông mày rậm và giao nhau, miệng rộng, môi dày, ria mép rậm; phụ nữ có gương mặt thô và bộ ngực lớn. Hoa văn trang trí trên tường tháp và các cột trụ là những cành lá cách điệu xoắn xít, rậm rạp trông giống như những con sâu (vermicule). Các đặc điểm này tạo nên sự khác biệt dễ nhận thấy trong phong cách nghệ thuật và tên gọi "phong cách Đồng Dương" được dùng để chỉ tất cả những tác phẩm điêu khắc Chăm có những đặc điểm tương tự như các điêu khắc tại di tích  Đồng Dương, có niên đại khoảng cuối thế kỷ IX đến đầu thế kỷ X.
  
 Hơn nửa thế kỷ sau khi các nhà khảo cổ Pháp khai quật, khảo tả về di tích này, đến năm 1978, nhân dân địa phương đã đào được một pho tượng bằng đồng ở khu vực này. Tượng cao 114 cm, đường nét chạm khắc tinh tế. Tượng được gọi tên là  tượng Bồ tát Tara, tức là một trong số nhiều hiện thân của Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara). Có thể đây là pho tượng đặt tại đài thờ trung tâm dâng cúng cho thần Lakshmindra Lokeshvara như được nhắc đến trong văn bia tại di tích Đồng Dương năm 875. (Ảnh tượng đồng Tara)




(30/08/2008)

Phòng Mỹ Sơn

đăng 20:33, 12 thg 8, 2010 bởi Hiền Đỗ Thế

         Mỹ Sơn từng là một trung tâm tín ngưỡng quan trọng của vương quốc Chămpa, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam ngày nay, cách di tích Trà Kiệu (Simhapura - kinh đô của Chămpa cho đến năm 1000) khoảng 30 km về phía tây. Trong không gian thâm nghiêm của một thung lũng bao bọc bởi những ngọn núi nhỏ, tại đây có hơn 70 ngôi tháp, phần lớn được xây dựng để thờ thần Siva.
 
          Qua các đợt khai quật và nghiên cứu đầu tiên vào những năm 1903 – 1904, Henri Parmentier và Charles Carpeaux đã phân định các ngôi tháp ở Mỹ Sơn thành các nhóm, dùng chữ cái đặt tên cho các nhóm tháp và chữ số đặt tên cho từng ngôi tháp trong nhóm, ví dụ ngôi tháp trung tâm của nhóm tháp chính được gọi tên là tháp A1.
 
          Theo văn bia, tại Mỹ Sơn có thể đã có những ngôi tháp đầu tiên xây dựng từ khoảng thế kỷ IV hoặc V, nhưng đến nay chỉ còn lại các công trình kiến trúc có niên đại sớm nhất là khoảng thế kỷ VII (như nhóm tháp E). Đa số các công trình được bảo tồn tốt nhất có niên đại từ thế kỷ X đến XI (các nhóm A, B, C, D). Những ngôi tháp được xây dựng muộn nhất tại Mỹ Sơn là vào khoảng thế kỷ XII, XIII (nhóm G và tháp trung tâm của nhóm B).

 
Các đền tháp tại khu di tích Mỹ Sơn được xây dựng lần lượt trong một thời gian dài gần 10 thế kỷ. Các kiến trúc còn lại tại Mỹ Sơn ngày nay và các hiện vật điêu khắc sưu tầm được từ di tích này phản ánh các phong cách kiến trúc và điêu khắc khác nhau trong quá trình phát triển nghệ thuật của vương quốc Champa.
 
Tại phòng Mỹ Sơn của Bảo tàng Điêu khắc Chăm hiện đang trưng bày 18 hiện vật, gồm 3 nhóm hiện vật: nhóm hiện vật trong các tháp chính, nhóm hiện vật ở các tháp phụ và nhóm các hiện vật trang trí trên trán cửa hoặc trên tường tháp nói chung. Ngoài ra tại đây cũng đang trưng bày một tấm bia chữ Sanskrit và chữ Chăm cổ (ký hiệu 1.1).


Nhóm các hiện vật trong các tháp chính gồm:
-         Đài thờ Mỹ Sơn E1, ký hiệu 22.4
-         Tượng thần Ganesa đứng, ký hiệu 5.1;
-         Tượng thần Ganesa ngồi, ký hiệu 5.2
-         Tượng thần Siva đứng, ký hiệu 3.3
-         Nhóm 7 linga, ký hiệu 2.4
-         Tượng thần Skanda, ký hiệu 8.1
 
Nhóm các hiện vật trong các tháp phụ chung quanh tháp chính, gồm tượng các vị thần phương hướng:
-         Thần Varuna 9.1
-         Thần Vayu 9.2, 9.3
-         Thần Agni 10.1, 42.8
-         Thần Isana 10.2
-         Thần Kubera 10.3
 
Nhóm các hiện vật trang trí trên tường tháp gồm có:
-         Bức trán cửa (tympan) Đản sinh Brahma 17.8
-         Bức dầm cửa (linteau) Vũ nhạc triều đình 45.8
-         Bức trán cửa Thần Durga (hay Uma) 16.2
-         Bức trang trí Chiến sĩ bay 44.10
  
Đài thờ Mỹ Sơn E 1  


          Ở giữa của mặt trước đài thờ là một bậc cấp nhỏ. Thành của bậc cấp là một bức chạm tả cảnh ba người trong điệu múa khăn. Người giữa trong tư thế uốn mình hai chân xoãi gần sát đất, hai tay dang rộng nâng một dãi lụa với nét mặt ngẩng nhìn lên. Hai bên là hai vũ công, chân trái khép lại, chân phải xoãi bật ra, hai tay cong lên nâng dãi lụa. Tất cả toát lên một vẻ say sưa, thành kính trong nghi lễ dâng cúng thần linh.
 

          Hai bên bậc cấp là hai phiến đá chạm khắc hai vòm cuốn, mô phỏng theo hình dáng các vòm cuốn trên các cửa tháp. Dưới hai vòm cuốn là hình ảnh hai nhạc công, một người đang chơi đàn và một người thổi sáo. Bên hông phải của bậc cấp đài thờ là cảnh một đạo sĩ ngồi trầm ngâm trước một quyển kinh, bên trái đạo sĩ là một chú két ló đầu ra từ một lùm cây, bên phải là một chú sóc duỗi cái đuôi xù chạy xuống từ một thân cây to có tán lá toả ngang đầu đạo sĩ. 


          Các ô khác của đài thờ miêu tả cảnh một tu sĩ nằm tĩnh tâm, lần chuỗi hạt dưới một bóng cây, cảnh biểu diễn âm nhạc với người thổi sáo và người vỗ trống baranưng, cảnh tu sĩ đang giảng đạo cho tín đồ, cảnh đạo sĩ đang luyện thuốc và chữa bệnh. Trong các cảnh này còn có chạm khắc những con hổ, con heo rừng làm cho khung cảnh sinh hoạt trong rừng của các đạo sĩ càng thêm sống động. 
 

          Thường được chạm khắc chung quanh các đài thờ là hình ảnh hoặc chuyện kể về các vị thần. Riêng ở đài thờ Mỹ Sơn E1 ta bắt gặp các bức chạm miêu tả nhiều cảnh sinh hoạt hàng ngày trong rừng của các tu sĩ Ấn Độ Giáo một cách sống động, đầy tính nghệ thuật.
 
Mi cửa tháp Mỹ Sơn E1: Đản sinh Brahma 

 
          Đây là bức chạm khắc trang trên vòm cửa (được gọi là mi cửa, trán cửa hay tympan) của tháp Mỹ Sơn E1, thể hiện một chủ đề quen thuộc trong thần thoại Ấn Độ, đó là cảnh thần Vishnu sinh ra thần Brahma từ cuống rốn của mình. Thần Vishnu nằm trên biển vũ trụ, được nâng đỡ bởi rắn thần Shesha 7 đầu, tay phải đỡ dưới đầu, tay trái giữ chặt cuống sen mọc ra từ rốn. Trên đài sen ở đỉnh bức phù điêu là hình ảnh thần Brahma ngồi chễm chệ. Thần Brahma có bốn đầu nhìn về bốn hướng, đầu quay về phía sau không thể hiện được trên phù điêu. Ở phía chân thần Vishnu là hình ảnh một vị đạo sĩ đang chúc phúc cho cuộc đản sinh. Hai đầu của bức phù điêu là hai chim thần Garuđa có thân hình người, hai tay cầm hay con rắn như đang thành kính canh giữ cho cuộc đản sinh. Trên đường viền của bức phù điêu được chạm khắc hình bông hoa 4 cánh đơn giản theo mô típ giống như các cánh hoa trang trí trên đài thờ Mỹ Sơn E1.
 
          Đường nét mềm mại, đơn giản nhưng sống động của các tác phẩm điêu khắc trên đài thờ Mỹ Sơn E1 và bức mi cửa này đã được xem là tiêu biểu cho một phong cách nghệ thuật sớm của điêu khắc Chămpa, xuất hiện trong khoảng thế kỷ VIII - IX.
 
Tượng Ganesa đứng 5.1 
 
          Pho tượng này được tìm thấy tại tháp E 5 . Thần có bốn cánh tay, một tay cầm chén có cắm cái vòi của thần, một tay cầm chuỗi hạt, hai tay khác đã gãy mất. Thần mang nhiều đồ trang sức, ở cổ là một chiếc vòng nặng có hình những cánh hoa kết xoắn xít. Thần mặc một chiếc sampot có thân buông xuống phía trước, thắt lưng được buộc lại bằng một loại khoá chạm khắc thành hình hoa trước bụng. Choàng qua vai thần là một sợi dây hình rắn, một dấu hiệu thường thấy ở các tượng thần Siva.
 

          Với thân hình tròn trĩnh, mập mạp, tượng thần Ganesa đứng trông rất vững chãi, bệ vệ và thân thiện với mọi người. (Theo các nhà nghiên cứu, cho đến nay chỉ mới tìm thấy 2 tượng Ganesa ở dạng đứng, một tại miền nam Ấn Độ và một tại Mỹ Sơn). 
 
Tượng Siva đứng 3.3 


          Tượng đươc tìm thấy ở tháp Mỹ Sơn C 1. Đây là bức tượng theo bút pháp tả thực với chiều cao gần như người thật, khuôn mặt bộc lộ những nét nhân chủng của người Chăm. Đôi mắt hơi xếch, mở lớn, cánh mũi to và đôi môi dày. Đôi vai ngang và dáng đứng thẳng toát lên một sức mạnh cường tráng.
 
Vũ nhạc triều đình 45.6  


          Đây là phiến đá gác ngang phía trên cửa đi để xây tiếp lên phần vòm cửa (được gọi là mi cửa, dầm cửa hay lanh-tô), được tìm thấy tại tháp Mỹ Sơn E 4. 
          
          Phiến đá được chạm khắc cảnh múa hát trong triều đình. Nhà vua trên một chiếc ngai ở giữa bức chạm, tay phải cầm một thanh kiếm dài, tay trái giơ cao như đang ra lệnh. Hai bên là hai người hầu cầm lọng; cạnh hai người hầu bên phải là một người đứng cầm phất trần và bên trái là một người ngồi gập hai chân lại, tay dâng một vật có miệng cong, rộng có đế cao, được phỏng đoán là một chiếc cơi đựng trầu. Tiếp thep hai bên là hai nhóm nhạc công gồm năm người, đánh trống ginăng, xập xoã và thổi kèn sarinai, những nhạc cụ này vẫn còn phổ biến trong dàn nhạc của người Chăm hiện nay.
 
Tượng Skanda 6.1 (Ảnh 6.1)
 

          Tác phẩm miêu tả thần Skanda đứng trên lưng một con công. Các chi tiết trên thân hình và đuôi con công được chạm trỗ tinh tế, hoàn mỹ theo bút pháp tả thực. Rất tiếc đầu con công đã bị gãy mất, nhưng toàn bộ thân hình và dáng đứng của con công vẫn toát lên vẻ trang trọng vững chãi, tôn vinh vẻ đẹp của thần Skanda, một vị thần tượng trung cho sự trẻ trung và nhiều tài năng trong thần thoại Ấn Độ.
 
 
Các vị thần phương hướng
 
Ảnh 9.1, 9.2, 9,3
 

          Đây là các vị thần được tìm thấy ở nhóm tháp B, ở khu vực các tháp B7 đến B13 , được coi là các tháp phụ nằm xung quanh tháp thờ chính, là tháp B1. Các vị thần thờ ở các tháp phụ là các vị thần có vai trò trấn giữ các phương hướng (dikpalaka). Đó là thần Sấm sét Indra, cưỡi con voi, trông nom hướng đông; thần Lửa Agni, cưỡi con tê giác, trông coi hướng đông - nam; thần Chết Yama, cưỡi con trâu, trông coi hướng nam; thần Gió Vayu, cưỡi con ngựa, coi hướng tây bắc; thần Isana (một tên khác của thần Siva), cưỡi con bò đực, coi hướng đông bắc; thần Brahma, cưỡi con ngỗng và thần Tài Lộc Kubera, không có vật cưỡi, trông coi hướng bắc.
 

          Các vị thần này được tạc ở dạng ngồi, trên một cái bệ vuông, phía trước bệ có chạm con vật cưỡi của thần. 
 
Ảnh 10.1, 10.2, 10.3
 
          Tại nhóm tháp A của Mỹ Sơn cũng tìm thấy năm tượng thần phương hướng tương tự như ở nhóm tháp B, đó là thần Brahma với con ngỗng, thần Agni với con tên giác, thần Vayu với con ngựa, thần Indra với con voi và thần Niriti với một yaska (?). Khác với các tượng ở nhóm tháp B, các tượng ở nhóm tháp A không ngồi trên bệ vuông mà ngồi tựa lưng vào một tấm bia, phía trên có hình chóp nhọn và hào quang hình trái tim. 
 
          Các nhà nghiên cứu xếp nhóm các tương thần phương hướng này vào phong cách Mỹ Sơn A1, có niên đại khoảng giữa thế kỷ X. 

Phòng Trà Kiệu

đăng 20:32, 12 thg 8, 2010 bởi Hiền Đỗ Thế

     Trà Kiệu thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 50 km về hướng tây nam. Trà Kiệu được xác định là kinh đô của vương quốc Champa ở thời sơ kỳ. Theo sử liệu ghi lại, đây là kinh đô đầu tiên và cổ nhất của Champa, được xây dựng vào cuối thế kỉ IV dưới triều vua Bhadresvara với tên gọi Sinhapura, nghĩa là Thành phố Sư Tử.


     Năm 1927-1928, J.Y.Claeys đã tiến hành khai quật khu di tích này. Hiện tại có 43 tác phẩm, phần lớn có niên đại thế kỉ VII-VIII và XI-XII đang được trưng bày tại phòng Trà Kiệu của bảo tàng Điêu Khắc Chăm.

1. Đài thờ Linga-Yoni.


Niên đại : Thế kỉ VII - VIII.
Chất liệu : Đá sa thạch .
Kí hiệu :[2.2].
Xuất xứ: Trà Kiệu.

     Đài thờ gồm phần cột hình trụ bên trên, chia làm ba phần gọi là Linga, và phần bệ hình vuông có rãnh dẫn nước nằm bên dưới gọi là Yoni. Linga theo tiếng Phạn cổ thường được hiểu là một hòn đá dựng lên tượng trưng cho dương vật. Thần Siva có mười hai biểu tượng, trong đó Linga là biểu tượng nổi tiếng nhất, tượng trưng cho năng lực sáng tạo siêu việt của thần. Yoni cũng có nguồn ngốc từ tiếng Phạn, nguyên nghĩa là “ Bầu vú, nguồn gốc”.

     Trong những đài thờ kết hợp Linga và Yoni, Linga tượng trưng cho nguyên lí dương và Yoni tượng trưng cho nguyên lí âm. Sự giao hoà âm – dương là nguồn gốc của sự sinh sôi nảy nở của vạn vật trong vũ trụ và cũng là một nét đặc trưng trong tập tục thờ cúng của các cư dân nông nghiệp.

 

 2. Đài thờ Trà Kiệu.


Niên đại : Thế kỉ VII - VIII. 
Chất liệu : Đá sa thạch. 
Kí hiệu : [22.2]. 
Xuất xứ: Trà Kiệu.

     Kết cấu hiện tại của đài thờ gồm hai phần.  

    

- Phần bên trên gồm hai thớt tròn, được trang trí với những cánh hoa sen cách điệu trên và dưới đối xứng nhau. Thớt phía trên thể hiện Yoni, với rãnh và vòi dẫn nước, ôm lấy một linga.

      - Phần bên dưới là một đế thờ hình vuông gồm bốn mặt với vô số hình người được chạm khắc tinh xảo. 


Hiện có nhiều ý kiến xoay quanh ý nghĩa của đài thờ này. Năm 1930, Przyluski cho rằng những trang trí trên bốn mặt của đài thờ minh hoạ truyền thuyết việc thành lập nước Phù Nam. Một năm sau đó, Coedes đã bác bỏ giả thuyết này, và cho rằng các cảnh của đài thờ thể hiện những giai đoạn khác nhau của cuộc đời thần Krishna như được kể trong Bhagavata Puruna. Cũng có nhiều ý kiến khác cho rằng đài thờ kể chuyện một trích đoạn trường ca Ramayana, chủ đề là lễ cưới của nàng Sita với hoàng tử Rama.

     Từ những hình tượng nhân vật đuợc điêu khắc chạm trổ rất trau chuốt , đều đặn đặc biệt là hình ảnh mười một vũ nữ Apsara nhảy múa vô cùng mềm mại, uyển chuyển, gợi cảm đến những kiểu trang phục, trang sức, kiểu tóc được thể hiện rất tỉ mỉ, tác phẩm hoàn toàn xứng đáng là một trong những kiệt tác nghệ thuật điêu khắc Chăm. Đài thờ được đưa về bảo tàng năm 1901. 

3. Phù điêu Vishnu.


Niên đại : thế kỉ XI - XII. 
Chất liệu : đá sa thạch. 
Kí hiệu: [18.4]. 
Xuất xứ: Trà Kiệu.

     Thần Vishnu theo Ấn độ giáo là vị thần bảo tồn, canh giữ không trung. Trong thần thoại Ấn Độ, vị thần này có rất nhiều kiếp hóa thân khác nhau.




     Tấm tympan với viền khung xung quanh hình lá đề, bên trong thể hiện thần Vishnu ngồi xếp bằng theo kiểu Ấn Độ trên thân mình cuộn thành chín khúc của rắn Naga. Phía sau lưng thần, rắn Naga mọc lên mười ba đầu tạo thành một tán che cho thần. Bốn tay của thần cầm bốn vật tượng trưng gồm : chiếc gậy Kaumodaki, chiếc tù và bằng ốc biển Shankha, chiếc đĩa rỗng đáy Sudarsana và đoá hoa sen ( đã gãy ). Đề tài về thần Vishnu xuất hiện không nhiều trong điêu khắc Champa vì thế tác phẩm này rất quí hiếm và có giá trị trong việc tìm hiểu nghệ thuật điêu khắc và tôn giáo của Champa.

4. Đài thờ Vũ nữ Trà Kiệu

  
Niên đại : Thế kỉ VII-VIII. 
Chất liệu : đá sa thạch. 
Kí hiệu : [22.5]. 
Xuất xứ: Trà Kiệu.

  Hai mặt của đài thờ thể hiện vũ nữ Apsara trong tư thế múa tribhanga với thân mình uốn cong mềm mại, uyển chuyển cùng nhạc công với vẻ mặt tươi tắn chơi đàn Vina- một loại nhạc cụ truyền thống xuất xứ từ Ấn Độ. Các Apsara mặc một loại váy bằng voan mỏng, bó sát người , có thể nhận biết được thông qua chiếc nơ lớn được thắt lại ở cạnh hông sau lưng. Cổ, tay, vòng eo và  bên ngoài chiếc sampot là  những chuỗi hạt ngọc. Phía sau nhạc công và vũ nữ là những cánh hoa sen được cách điệu tạo thành những đường kỷ hà sắc nét làm tôn thêm vẻ quyến rũ của các vũ nữ. Đài thờ còn lại hiện nay chỉ là 1/16  của đài thờ xưa kia.

     Apsara được xem là những vũ nữ thiên tiên. Họ được sinh ra từ đại dương khi các thần khuấy biển sữa.

5. Thần hộ pháp ( Siva ? )


Niên đại : Thế kỉ VII - VIII. 
Chất liệu : đá sa thạch. 
Kí hiệu : [3.2]. 
Xuất xứ: Trà Kiệu.

      Theo Henri Parmentier, tác phẩm thể hiện thần Siva; nhưng căn cứ vào đồ trang sức thể hiện trên tóc và dây rắn Naga quấn quanh mình thần, và một số yếu tố khác, Boisselier kết luận tác phẩm kí hiệu [3.1] kết hợp với tác phẩm đối xứng [3.2], tạo thành một cặp thần hộ pháp.

     Thần đứng trong tư thế tribhanga, thân mình hơi nghiêng sang phải, vẻ mặt điềm tĩnh, mái tóc được tết thành nhiều lọn trang trí tạo thành một búi cao như chiếc mũ miện Kirita mukuta. Dù bị hư hại nhiều, tác phẩm vẫn là một trong số những hiện vật đẹp của nghệ thuật điêu khắc Chăm.

Hành lang Quảng Ngãi

đăng 20:28, 12 thg 8, 2010 bởi Hiền Đỗ Thế

     Hành lang Quảng Ngãi hiện trưng bày 14 hiện vật niên đại từ cuối thế kỉ X đến giữa thế kỉ XI, hầu hết được khai quật và mang về từ Chánh Lộ và một số địa danh khác ở tỉnh Quảng Ngãi. Chánh Lộ cũng là tên gọi mà Boisselier đã chọn để đặt tên cho phong cách nghệ thuật chuyển tiếp giữa Mỹ Sơn A1 và Tháp Mẫm.

1. Tượng Uma.



Niên đại : thế kỉ X
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [4.1]
Xuất xứ: Đông Phúc
 
     Tác phẩm là một tượng tròn, tư thế đứng thẳng. Mặc dù phần đầu và hai tay đã bị mất, tác phẩm vẫn toát lên  một vẻ đẹp đầy quyến rũ và duyên dáng, đặc biệt được thể hiện hai bầu vú đầy đặn với ba nếp nhăn ước lệ bên dưới  và trang phục là chiếc sarong gồm hai lớp với nhiều chi tiết trang trí phong phú, dài từ thắt lưng xuống mắt cá chân.
 
     Uma là vợ của thần Siva, được xem là vị nữ thần phức tạp  nhất đồng thời có quyền năng mạnh nhất trong sô các vị nữ thần. Nàng còn có nhiều tên gọi khác như : Parvati, Durga, Sati, Gauri, Chamunda.

2. Phù điêu Sarasvati 

Niên đại : thế kỉ XII
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [21.4]
Xuất xứ: Chánh Lộ
 
     Sarasvati, nữ thần của kiến thức, âm nhạc và nghệ thuật, là vợ của thần Brahma. Sarasvati thường hay xuất hiện trong nghệ thuật tranh, tượng và thần thoại  như một vị nữ thần duyên dáng, cưỡi trên lưng ngỗng Hamsa hay ngồi trên một đài sen, có bốn vật cầm tay gồm : quyển sách - biểu tượng của học thuật và viết lách, đàn vina - sự am hiểu về nghệ thuật, chuỗi tràng hạt pha lê – sức mạnh tinh thần và lọ nước thiêng – năng lực của sang tạo và thanh tẩy. Nguyên thuỷ Sarasvati còn là nữ thần của sông ngoài, tượng trưng cho sự màu mỡ, tốt tươi và thịnh vượng.
 
     Tác phẩm là một tấm lá nhỉ hình lá đề có chóp nhọn thể hiện nữ thần ở trong tư thế múa tribhanga, chân khuỳnh xuống, hông nhếch lên, ngực và bụng ưỡn về phía trước rất mềm mại, uyển chuyển. Đồ đội là kirita ba tầng và trang phục là một sampot ngắn, trang trí nhiều hoa. 

3. Tượng Laksmi



Niên đại : thế kỉ XI
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [8.2]
Xuất xứ: Phú Nhàn
 
     Tác phẩm thể hiện đề tài nữ thần Laksmi, nữ thần của vận may và hạnh phúc, vì thế người ta thờ cúng nữ thần để mong có được nhiều của cải và giàu có. Laksmi đôi khi được gọi là Sri và là vợ của Vishnu trong tất cả các kiếp hoá thân của nàng. 
     Trong nghệ thuật Ấn độ, Laksmi được thể hiện như một phụ nữ xinh đẹp, có hai hoặc bốn tay, đứng hoặc ngồi trên một đoá hoa sen - biểu tượng của vẻ đẹp tinh thần thuấn tuý và tinh khiết. Tuy nhiên trong nghệ thuật Chăm, vị nũ thần này đôi khi lại được thể hiện rất đơn giản, không có những vật cầm tay hay những chi tiết kể trên.

 

Hành lang Quảng Nam

đăng 20:27, 12 thg 8, 2010 bởi Hiền Đỗ Thế

Hành lang Quảng Nam hiện trưng bày 32 hiện vật, niên đại thế kỉ VII – VIII và IX – X, được khai quật từ nhiều địa phương ở tỉnh Quảng Nam.

1. Siva múa

Niên đại : thế kỉ X
Chất liệu : Đá sa thạch
Kí hiệu : [15.3]
Xuất xứ: Phong Lệ
 
      Tác phẩm thể hiện thần Siva đang múa trong tư thế hình chữ S mềm mại uyển chuyển. Từ hai cánh tay chính của thần mọc ra 14 cánh tay phụ, hai bên dưới thần là các nhạc công chơi đàn và những vị thần khác đang chiêm bái điệu múa của thần. Thần Siva còn được xem là thần của những vũ điệu. Vũ điệu Tandava của thần ghi dấu sự vận động vĩnh cữu của vũ trụ. Tác phẩm được tìm thấy tại Phong Lệ, tỉnh Quảng Nam năm 1890 và chuyển về Bảo tàng năm 1901.
 

2. Thần hộ pháp


 
Niên đại : thế kỉ VII - VIII
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [9.4]
Xuất xứ: Khương Mỹ 
 
     Thần hộ pháp hay còn gọi là Môn Thần là những người bảo vệ sự  uy nghiêm của đền tháp.
 
     Tác phẩm thể hiện thần trong tư thế sẵn sàng chiến đấu với vẻ mặt hung dữ, một tay đặt lên hông, một tay cầm vũ khí đưa lên cao và một sợi dây , hoặc đôi khi là con rắn, quấn ngang thân mình. Đây là nét đặc trưng của các tác phẩm thể hiện những vị thần này đặc biệt kể từ phong cách Đồng Dương trở về sau. Tác phẩm này cùng với tác phẩm kí hiệu [9.5] tạo thành một cặp đối xứng.



3.  Phù điêu Krishna

 
Niên đại : thế kỉ VII-VIII
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu : [17.6]
Xuất  xứ: Khương Mỹ
 
     Krishna là vị thần đồng cỏ, hóa thân thứ tám của Vishnu. Đề tài Krishna ít xuất hiện trong điêu khắc Chăm. Tác phẩm duy nhất được trưng bày tại hành lang Quảng Nam của bảo tàng thể hiện cảnh thần đang nâng ngọn núi Govardhana chống lại cơn mưa kéo dài bảy ngày bảy đêm của thần Indra, một đề tài trong thần thoại Ấn Độ.
 

4.  Phù điêu Yaksa

 
Chất liệu : đá sa thạch 
 Niên đại : thế kỉ V
Kí hiệu : [20.2]
Xuất xứ: Trà Kiệu
 
     Tác phẩm thể hiện thần Yaksa ngồi xếp bàn, hai chân dạng rộng, hai cổ chân xếp lên nhau, bàn chân phải đặt lên trên bàn chân trái. Hai bên đầu thần được trang trí bởi hai đồ án hoa văn mềm mại, uốn lượn mang nét tương đồng với các tác phẩm điêu khắc Ấn Độ và Khmer thời kỳ sớm. Tóc gồm nhiều lọn xoăn tròn, bao xung quanh mặt thần từ bên này sang bên kia.
 
     Yaksa là vị thần rừng trong thần thoại Ấn Độ, người canh giữ các kho báu ẩn sâu trong lòng đất hay dưới các rễ cây. Về bản tính, cácYaksa là những vị thần rất tốt, tuy nhiên đôi lúc cũng khá thâm hiểm; họ xuất hiện dưới hình dạng giống người bình thường, nhưng cũng có lúc đội lốt của cây cối trong rừng sâu.

Phòng Quảng Trị

đăng 20:21, 12 thg 8, 2010 bởi Hiền Đỗ Thế

   Phòng Quảng Trị hiện trưng bày 14 tác phẩm, hầu hết có niên đại thế kỉ VII-VIII, được khai quật từ các địa danh ở tỉnh Quảng Trị như Nam Giáp, Hà Trung, Thạch An, Đa Nghi và đưa về Bảo Tàng từ những năm 1918 và 1935.

1. Cưỡi ngựa đánh cầu.


Niên đại: thế kỉ VII – VIII. 
Chất liệu: đá sa thạch. 
Kí hiệu : [24.4]. 
Xuất xứ: Thạch An.

     Tác phẩm vốn là thành bên trái của bậc thềm lên xuống cửa tháp, chạm trổ tinh xảo cảnh cưỡi ngựa chơi cầu. Hai người chơi cưỡi trên lưng hai con ngựa , tay cầm gậy. Đồ trang sức và trang phục của người chơi lặp lại phong cách nghệ thuật Chăm truyền thống. Mũ trùm đầu và búi tóc có lọn phía sau giống những nhân vật được thể hiện trên bệ thờ  Trà Kiệu.

     Cưỡi ngựa đánh cầu, hay còn gọi là chơi Polo, bắt nguồn từ đế chế Ba Tư ( Iran ngày nay ). Theo sử liệu, những người Ba Tư cổ đại đã biết chơi cưỡi ngựa đánh cầu từ cách đây khoảng 2500 năm. Băng qua những thảo nguyên Trung Á bao la, trò chơi được phổ biến đến các quốc gia Trung Hoa, Tibet, Ấn Độ và Nhật Bản. Đây là tác phẩm điêu khắc Chăm duy nhất thể hiện đề tài về trò chơi này, do đó tác phẩm gợi mở một ảnh hưởng từ Trung Hoa hoặc Ấn Độ lên Champa vào thời kì bấy giờ.

2. Phần đài thờ.

Niên đại : thế kỉ VII – VIII
Chất liệu : đá sa thạch
Kí hiệu: [22.3]
Xuất xứ: Hà Trung 

    

Đài thờ gồm ba mặt liên hoàn thể hiện những con voi và sư tử xen kẽ nhau, trong những tư thế đứng ngồi hoàn toàn khác nhau, nhìn thẳng về phía trước. Tuy chỉ còn lại một nửa nhưng đây là tác phẩm rất sinh động, đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc Chăm.

3. Trụ cửa

Niên đại : thế kỉ VII – VIII. 
Chất liệu : đá sa thạch. 
Kí hiệu: [26.6]. 
Xuất xứ: Hà Trung .

     Trụ cửa cao, được chạm trổ khá tinh xảo, được chia làm hai phần nằm đối xứng nhau, phân cách bởi 3 đường gờ ở giữa. Trụ cửa kí hiệu [26.6] này cùng với nhiều cột và trụ khác được tìm thấy tại Quảng Trị đánh dấu một thời kì phát triển rực rỡ của Champa tại đây.











 

Bảo tàng Chăm

Doanh nghiệp hàng đầu

  • Tiệm vàng Kim Phát Ngân II Tin nổi bậtTin Xã hộiTiệm Vàng & Cầm Đồ  KIM PHÁT NGÂN IICHUYÊN MUA BÁN - TRAO ĐỔI NỮ TRANGVÀNG 18K-24K-9999-PNJ-ĐÁ QUÝĐC:10c ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Trường Đại học Đông Á - Dong A University Trường Đại học Đông Á Là một trong ba trường đại học tư thục tại thành phố Đà Nẵng, đại học Đông Á với chặng đường phát triển đi lên ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai Thông tin về công ty cổ phần Hoàng Anh Gia LaiTầm nhìn và sứ mệnh của HAGLLịch sử hình thành và phát triển của tập ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Trung tâm Tin học Việt Tin -VIETIN  Vietin.com | Giới thiệu | Chương trình đào tạo | Thông báo | Tuyển sinh | Tin tức hoạt động Trung tâm Việt tin Thông báoGiới thiệu Trung tâm tin học Việt Tin ...
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
  • Cafe Long
    Được đăng 02:04, 22 thg 6, 2011 bởi Hiền Đỗ Thế
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 5. Xem nội dung khác »


1-8 of 8